Theo số liệu thống kê, trong nửa đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,8% so cùng kỳ năm 2025. Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21%; nhập khẩu lên tới 283,17 tỷ USD, tăng 33,4%. Chênh lệch giữa hai chiều thương mại khiến Việt Nam nhập siêu 16,65 tỷ USD.
Thâm hụt thương mại cả năm khoảng 5-7 tỷ USD
Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn và bất định, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng tích cực, cho thấy khả năng thích ứng của doanh nghiệp và sức chống chịu của nền kinh tế. Nhập khẩu tư liệu sản xuất trong sáu tháng đầu năm chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Nhập khẩu tăng chủ yếu tập trung ở nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, nguyên - nhiên vật liệu phục vụ hoạt động chế biến, chế tạo. Đây đều là những nhóm hàng đầu vào của sản xuất chứ không phải là hàng hóa phục vụ tiêu dùng cuối cùng.
Trong đó, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục là nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất trong sáu tháng với tốc độ tăng 62% so cùng kỳ năm trước. Nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng cũng tăng cao ở mức 22,9%. Doanh nghiệp đang chủ động nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và máy móc để mở rộng sản xuất, đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu trong thời gian tới cũng như nhu cầu đầu tư của nền kinh tế. Ở một góc độ nhất định, nhập siêu hiện nay phản ánh niềm tin của doanh nghiệp vào triển vọng sản xuất và xuất khẩu những tháng cuối năm.
Cơ cấu xuất khẩu cũng cho thấy hoạt động sản xuất của Việt Nam vẫn duy trì được động lực tăng trưởng. Nhiều nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục tăng khá, đặc biệt là nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 49,1%; máy móc, thiết bị và dụng cụ, phụ tùng tăng 23,6%. Nhập siêu trong giai đoạn này chưa phải là tín hiệu đáng lo ngại khi chủ yếu đến từ nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất.
Trong Báo cáo Triển vọng Việt Nam sáu tháng cuối năm, các chuyên gia của Công ty Chứng khoán MB (MBS) dự báo xuất khẩu của Việt Nam vẫn có thể tăng trưởng 18 - 19% trong năm 2026, nhờ hai động lực chính.
Thứ nhất, chu kỳ đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) được dự báo sẽ tiếp tục kéo dài trong vài quý tới, bất chấp lo ngại về lãi suất. Tổng vốn đầu tư của các tập đoàn công nghệ lớn như Alphabet, Amazon, Meta và Microsoft dự kiến tiếp tục tăng mạnh. Căng thẳng địa chính trị cũng thúc đẩy nhiều quốc gia theo đuổi chiến lược AI chủ quyền (Sovereign AI), coi hạ tầng AI và năng lực bán dẫn là ưu tiên chiến lược nhằm bảo đảm an ninh quốc gia.
Thứ hai, xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước được kỳ vọng phục hồi nhờ chiến lược đa dạng hóa thị trường. Bên cạnh Liên minh châu Âu (EU) và Hàn Quốc, Trung Quốc tiếp tục giữ vai trò là thị trường xuất khẩu chủ lực đối với nhóm hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam.
Ở chiều ngược lại, MBS dự báo tăng trưởng nhập khẩu sẽ chậm lại trong những tháng cuối năm khi nhu cầu nhập khẩu linh kiện điện tử giảm theo chu kỳ mùa vụ và giá năng lượng dần ổn định. Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu cả năm vẫn được dự báo duy trì ở mức cao do chi phí vận tải chưa giảm đáng kể. Bên cạnh đó, Việt Nam được cho là sẽ tiếp tục tăng nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ nhằm thu hẹp thặng dư thương mại song phương, đồng thời nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ vẫn ở mức lớn để phục vụ mở rộng sản xuất và đầu tư hạ tầng. Theo dự báo, cán cân thương mại của Việt Nam cả năm 2026 sẽ nhập siêu khoảng 5-7 tỷ USD.
Nâng cao giá trị gia tăng nội địa
Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho rằng, nhập siêu có tác động nhất định đến các chỉ tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP). Tuy nhiên, cơ cấu nhập khẩu hiện nay có lợi cho thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu trong thời gian tới.
Nhập siêu có thể tạo áp lực cục bộ lên nhu cầu ngoại tệ và tăng trưởng. Song xét tổng thể cán cân thanh toán, với sự hỗ trợ từ dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI), nguồn thu dịch vụ và các dòng vốn khác, tình hình vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Bộ Công thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành theo dõi sát diễn biến xuất nhập khẩu để kịp thời báo cáo Chính phủ.
Về giải pháp, Bộ Công thương sẽ tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu trong những tháng cuối năm, hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA). Bộ Công thương vừa chủ trì kết thúc đàm phán thành công Hiệp định Thương mại tự do với Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA). Nếu được ký kết, đây sẽ là FTA thứ 18 của Việt Nam.
Bên cạnh đó, Bộ sẽ tăng cường xúc tiến thương mại, tháo gỡ khó khăn về thị trường theo hướng trọng tâm, trọng điểm; phát huy vai trò của hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài trong kết nối doanh nghiệp với nhà nhập khẩu, các sàn thương mại điện tử và đầu mối phân phối tại các thị trường.
Theo TS Nguyễn Quốc Việt, giảng viên Khoa Kinh tế phát triển, Trường đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), khi đánh giá cán cân thương mại không nên chỉ nhìn vào giá trị nhập siêu hay xuất siêu tuyệt đối mà cần xem xét tương quan giữa giá xuất khẩu và giá nhập khẩu. Từ năm 2024 đến nay, khoảng cách giữa giá trị xuất siêu và nhập siêu ngày càng thu hẹp do chi phí nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và thiết bị đầu vào tăng nhanh. Trong khi đó, nhu cầu thế giới phục hồi chậm, cùng áp lực lạm phát tại nhiều nền kinh tế, khiến giá bán hàng xuất khẩu của Việt Nam tăng chậm hơn nhiều. Như vậy, doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều chi phí nhập khẩu hơn để tạo ra cùng một giá trị xuất khẩu, phần giá trị gia tăng mà nền kinh tế giữ lại sẽ ngày càng thu hẹp.
Để cải thiện tình trạng này, Việt Nam cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào gia công, lắp ráp và lao động chi phí thấp sang nâng cao giá trị gia tăng nội địa. Đây cũng là hướng đi mà nhiều quốc gia trong khu vực đang theo đuổi nhằm tăng sức chống chịu trước biến động của thương mại toàn cầu. Trước hết, Việt Nam cần nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng tỷ lệ nội địa hóa để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Khi doanh nghiệp trong nước có thể sản xuất được nhiều linh kiện, nguyên vật liệu và đầu vào hơn, mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu sẽ giảm, qua đó nâng cao giá trị giữ lại trong nền kinh tế.
Bên cạnh đó, giải pháp quan trọng hơn là gia tăng hàm lượng số trong sản phẩm. Nghị quyết số 57-NQ/TW và các mô hình tăng trưởng mới đều nhấn mạnh vai trò của kinh tế số, song điều cốt lõi là khả năng lan tỏa của công nghệ số vào các ngành sản xuất. Việc tích hợp các dịch vụ số, dữ liệu và công nghệ số vào nông nghiệp, công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ giúp nâng cao giá trị gia tăng, cải thiện năng lực cạnh tranh và tăng giá trị xuất khẩu.
Một vấn đề khác cần được quan tâm là cán cân thương mại dịch vụ. Theo ông Việt, nhiều năm qua Việt Nam chủ yếu tập trung vào thành tích xuất siêu hàng hóa, trong khi lại phụ thuộc lớn vào các dịch vụ do doanh nghiệp nước ngoài cung cấp như logistics, vận tải biển, kho vận, hải quan và dịch vụ tài chính. Cán cân thương mại dịch vụ vẫn liên tục thâm hụt, với mức nhập siêu khoảng hơn 10 tỷ USD mỗi năm. “Đây là khu vực có nhiều dư địa để tạo ra giá trị gia tăng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước cải thiện cán cân thương mại tổng thể", TS Nguyễn Quốc Việt nhấn mạnh.