Ấn tượng Trung Đô

Dù đã được trải nghiệm rất nhiều nét đẹp của cảnh và người nơi vùng cao, nhưng lần nào đến thôn Trung Đô, xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà (Lào Cai), trong tôi cũng thấy rộn ràng. Không chỉ bởi được đón tiếp nồng ấm, mà còn bởi người dân biết làm du lịch cộng đồng, phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên. Con sông Chảy vắt qua xã Bảo Nhai, cũng vì thế trữ tình hơn.

Đội văn nghệ Trung Đô (Bắc Hà, Lào Cai) tổ chức múa hát trong hội xuân.
Đội văn nghệ Trung Đô (Bắc Hà, Lào Cai) tổ chức múa hát trong hội xuân.

Du lịch giúp đổi đời

Lần đầu đến thôn Trung Đô, vượt qua vài nương lúa miền thấp là có thể dạo bộ trên “ruộng cát” sát dòng sông Chảy. Cát ở đây tuyệt đẹp, óng ánh dưới ánh mặt trời. Tiến ra mép sông, dưới chân nước lấp xấp và theo người dân, đoạn sông Chảy đi qua xã Bảo Nhai là trong nhất. Từ đây có thể quan sát chung quanh với một vùng núi non hùng vĩ.

Nhờ cảnh sắc đẹp, nên thơ, những năm gần đây thôn Trung Đô đã chú trọng phát triển mạnh lĩnh vực du lịch cộng đồng, tạo việc làm cho hàng trăm lao động địa phương. Không chỉ có dòng sông Chảy chạy qua, Trung Đô còn được thiên nhiên ban tặng cho hệ sinh thái đa dạng, với nhiều cảnh quan đẹp và hấp dẫn. Đặc biệt là những nét văn hóa chợ phiên, thành cổ Trung Đô, các lễ hội văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc… Tới nay, thôn Trung Đô đã có hơn 40 hộ gia đình người Tày làm du lịch cộng đồng rất hiệu quả. Anh Phạm Văn Thủy là người đầu tiên xây dựng nhà sàn, với đầy đủ tiện nghi để đón khách du lịch ở Trung Đô. Để có thể kết nối được các hãng lữ hành, ngoài việc học thêm kiến thức, ngoại ngữ, anh cũng học các lớp tập huấn về phát triển du lịch bền vững.

Anh Thủy cho biết: Khi không có dịch Covid-19 hoành hành, khách nước ngoài đến nhà anh rất nhiều, theo hành trình của các tour du lịch từ Sa Pa, TP Lào Cai và Hà Nội đến. Những năm gần đây, việc đi lại tiện lợi hơn, cơ sở lưu trú đã được người dân đầu tư ổn thỏa, đủ điều kiện làm các mô hình homestay. Ngoài ra, một số hộ dân ở Trung Đô còn có dịch vụ xe trâu, có thể đưa du khách đi tham quan vùng quanh thôn, ngắm cảnh và khám phá những nét sinh hoạt của người dân.

Theo những người làm du lịch ở Trung Đô, người dân cũng phải phối hợp các địa phương làm du lịch cộng đồng ở “cao nguyên trắng Bắc Hà”, gồm các xã Bản Phố, Tà Chải, Na Hối, Tả Van Chư, Thải Giàng Phố… để tạo thành bản đồ du lịch của huyện. Anh Lục Văn Hà giới thiệu: “Khách đến Trung Đô không chỉ được sống trong không gian linh thiêng của một ngôi đền mà còn có thể hòa mình với cảnh sắc thiên nhiên, cộng đồng văn hóa nơi đây. Hay được tham quan rất nhiều cảnh đẹp theo một hệ thống liên hoàn với các điểm du lịch cực kỳ hấp dẫn như hang Tiên, gốc cây gạo, thành cổ Trung Đô, cảnh đẹp xã Cốc Ly và ngược lên đền Bắc Hà, Dinh thự Hoàng A Tưởng…”. Anh Hà cho biết thêm, từ năm 2000 trở về trước, đời sống bà con còn nghèo lắm. Nay cuộc sống đổi mới rồi, bà con cũng nói chuyện mới, phát triển kinh tế, làm giàu.

Những năm qua, ông Lục Văn Tỉnh - Trưởng thôn Trung Đô và các đoàn thể ở xã Bảo Nhai đã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân phát triển dịch vụ - du lịch là nghề mới xóa đói, giảm nghèo. Xã Bảo Nhai đã phối hợp Hội Nông dân huyện Bắc Hà triển khai chương trình hỗ trợ 10 gia đình làm dịch vụ du lịch xây dựng 10 công trình vệ sinh đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh môi trường. Đặc biệt người dân thôn Trung Đô còn chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó, đã thành lập được đội văn nghệ chuyên biểu diễn những tiết mục văn nghệ đặc sắc như: hát giao duyên, hát then, múa khăn, múa quạt, múa sạp, múa các làn điệu xòe truyền thống phục vụ khách du lịch miễn phí vào chiều thứ ba hằng tuần. 

Nhờ biết trọng vốn quý cha ông

Lễ hội đền Trung Đô được tổ chức vào ngày 10 tháng Giêng. Đền nằm lọt trong vùng thung lũng - nơi hợp lưu của hai dòng suối Nậm Thin (hay còn gọi là Nậm Thiên) và suối Nậm Khòn, chảy ra sông Chảy. Địa thế ở đây có sông, có núi, hội tụ đầy đủ các điều kiện tạo cho ngôi đền một vẻ uy nghi trang trọng. Đền Trung Đô được xây dựng vào cuối thế kỷ 18, thờ gia quốc công Vũ Văn Mật cùng dòng họ Vũ và tướng quân Hoàng Văn Thùng đã có công lao to lớn lãnh đạo nhân dân kiên trì bám trụ, đắp thành, xây lũy chống lại thế lực nhà Mạc ở vùng Đông Bắc. Để tưởng nhớ, nhân dân vùng đã lập đền thờ. Hằng năm người dân Trung Đô và quanh vùng tổ chức cúng hai lần: Lần đầu vào ngày Thìn tháng Giêng, lần thứ hai vào ngày Ngọ tháng 7. Sau lễ cúng người dân tổ chức múa xòe, hát then, các trò chơi dân gian. Năm 2008, đền đã được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia.

Trải mình trong thôn du lịch, chúng tôi có điều kiện gặp NNƯT Lâm Quang Cửa, người đã chung tay gìn giữ và phát triển văn hóa của thôn, gây dựng đội văn nghệ, gìn giữ nghệ thuật đàn tính. Với cây đàn tính, cùng nhạc chuông tay tạo nên âm thanh rộn ràng, ông Cửa đã làm cho những những điệu xòe then ở lễ hội ở làng, bản trở nên hấp dẫn. Năm nay, ông Cửa đã ở tuổi 64, tay đàn của nghệ nhân càng chín. Qua trò chuyện, được biết từ hồi còn nhỏ, Lâm Quang Cửa đã mê tiếng đàn tính, nhất là khi được nghe mấy bà, mấy chị ngón tay cài “mác rính”, đầu lắc lư theo nhịp đàn tính “khắp” những bài giao duyên xao xuyến lòng người. Ông bà nội và cả bố mẹ ông Cửa đều là những người đàn tính, hát then có tiếng ở Trung Đô và cả vùng cao Bắc Hà. Mỗi lần ông nội đi hát, Lâm Quang Cửa lại lân la đi theo học lỏm. Giờ ông không những đàn giỏi mà hát then cũng rất hay. Ông là người tích cực tuyên truyền, phổ biến cây đàn tính cũng như truyền dạy phương pháp đánh đàn, cách diễn xuất mỗi khi lên sân khấu cho lớp thanh niên trong thôn Trung Đô. Ông còn tham gia vào Đội văn nghệ của thôn, đêm đêm lại cùng lớp cháu con cầm đàn biểu diễn đàn tính, hát then cho khách du lịch. Ông Cửa tâm sự: “Xòe then như một biểu trưng gắn kết cộng đồng, tạo nên sức mạnh tập thể. Xòe then của người Tày không giống với xòe của người Thái. Bởi đặc điểm của âm thanh đàn tính, giai điệu dứt khoát, mạnh mẽ mà các động tác múa xòe của người Tày theo đó cũng mạnh mẽ. Âm thanh lúc dồn dập, lúc trầm lúc bổng làm nhộn nhịp trái tim bao chàng trai cô gái, để cùng xòe, cùng cầu cho mùa màng tươi tốt, bản làng yên bình, lứa đôi hạnh phúc”.

Trong khoảng sân rộng thênh thang trước đền Trung Đô, nhìn ra sông Chảy, chúng tôi được đội văn nghệ thết đãi các tiết mục văn nghệ đặc biệt. Trong đó có múa then, còn gọi là Dậm thuông, đã được đồng bào lưu truyền qua nhiều thế hệ hàng trăm năm nay. Dậm thuông gồm có sáu điệu: Dậm Mạy Tạu (múa gậy); Dậm Khăn lau (múa khăn); Dậm Bjoóc (múa hoa); Dậm Hương (múa hương); Dậm Mác Rính (múa nhạc); Dậm Tó Káy (múa chọi gà). Mỗi điệu múa có một đạo cụ đi kèm khác nhau và có một ý nghĩa tâm linh riêng. Chuyện xưa kể lại: Thuở xa xưa, từ thuở núi rừng còn hoang sơ, con người chưa biết làm ruộng, chưa biết nuôi lợn nuôi gà, các vị thần linh từ trời xuống cùng dân bản cuốc đất làm ruộng, dạy các nghi lễ ăn, ở. Về sau thần linh bay về trời, không xuống nữa, từ đó cứ vào các dịp quan trọng như ma chay, cưới hỏi hoặc các dịp lễ hội, dân bản lại tổ chức nhảy gọi là Dậm thuông để mời các vị thần linh xuống cùng nhảy múa.

Với mong muốn tiếng đàn tính mãi mãi ngân vang như âm thanh rì rào của dòng sông Chảy trên quê hương, ông Cửa và những người dân giỏi hát then vẫn không ngừng truyền dạy cho con cháu, cho thế hệ sau các ngón đàn, điệu hát. Đó là một trong những cách níu du khách biết nhiều hơn đến Trung Đô và tìm về mảnh đất này nhiều hơn.

Theo những người hát then ở Trung Đô, để có chiếc đàn tính có khả năng ngân lên những âm thanh kỳ diệu, đòi hỏi rất nhiều yếu tố trong khi chế tác. Cần đàn phải nhẹ và thẳng. Cần đàn trơn, không có phím bấm, người chơi tính phải có khả năng diễn tấu linh hoạt… Nó như một biểu tượng của hồn dân ca dân vũ của người Tày. Đó là điều kiện để ông Cửa và đội văn nghệ Trung Đô thể hiện khả năng của mình.