Vị bánh nẳng miền sơn cước

Xuân về, nhà nhà sắm Tết, bà nội lại cất lá, ngâm gạo chuẩn bị cho món bánh ngon. Tết trung du có nhiều loại bánh, nhưng bánh nẳng dân dã với gạo nếp nương dẻo thơm quyện mật mía, ngọt đậm, bà chỉ làm mỗi độ xuân về khiến tôi nhớ mãi! 

Vị bánh nẳng miền sơn cước

Bà nói rằng, để làm được bánh không khó, nhưng đúng vị truyền thống, chuẩn vị miền trung du quê tôi thì phải chăm chút từng công đoạn. Bánh nẳng ngày thường vẫn bán trên sạp chợ, nhưng bánh nẳng ngày Tết bà làm có vị rất riêng, thơm mát, hòa với vị ngọt ngào của mật mía, cần tâm sức, tỉ mỉ và kiên trì nhiều lắm.

Nguyên liệu của nước ngâm gạo làm bánh được bà chuẩn bị từ rất sớm. Khoảng tháng 5 tháng 6, khi nắng hè oi ả, bà đã chuẩn bị nào vỏ bưởi, lá dong, lá chít, rễ mơ, lá sim, lá mua về phơi khô ở góc sân. Bà bảo, nắng mùa hè phơi lá và rễ sẽ giúp khô kiệt, không bị ỉu và nấm mốc khi mùa thu - đông tới. Lá và rễ làm nước nẳng phơi nắng khi nào nghe tiếng xào xạc, lách chách giòn tan khi đó mới đạt chuẩn. Bà thường cẩn thận bó lại từng bó cho vào bịch nylon sạch, bọc bên ngoài bằng chiếc tải nhỏ rồi gác lên xà tre của căn bếp. Làm bánh không thể thiếu gạo nếp ngon. Bà thường lựa chọn loại nếp nương to, chắc, mẩy đầu mùa. Bà bảo, gạo phải ngon, gạo mới thì khi làm bánh nhựa gạo nhiều, luộc bánh lâu mới sánh quyện và dẻo thơm.

Độ 26, 27 tháng Chạp, bà mang lá và rễ cây đã phơi khô đốt lấy tro làm nước nẳng ngâm gạo. Việc đong đếm lượng nước, lượng tro thường dựa vào kinh nghiệm, để có nước nẳng chuẩn, thường bà sẽ cho một chút vôi trắng (vôi mới tôi mới) để qua đêm khoảng 12 tiếng mới gạn được lượng nước nẳng ưng ý. Gạo sau khi vo sạch, đem ngâm với nước nẳng tầm tám tiếng. Khi thấy hạt gạo trương to ngấm nước, vớt ra để ráo nước và gói bằng lá chuối tươi bánh tẻ đã hơ qua lửa cho dẻo dai. Bánh nẳng gói với lượng gạo ít và không có nhân, thuôn dài tầm gang tay cuốn lạt theo vòng giống như bánh chưng tày nhưng không nhiều gạo để bảo đảm đun chín bánh sẽ sánh quyện, trong và không bị lại gạo.

Sau khi gói và chằng dây cẩn thận, bà xếp bánh vào chiếc nồi gang đáy dày và đun bằng bếp củi liên tục trong 10-12 giờ. Bánh được lật giở thường xuyên, chín đều. Khi bé, chúng tôi thường háo hức tranh nhau trông nồi bánh nhưng không đứa nào đủ kiên trì. Chỉ có bà cẩn trọng, tỉ mẩn trông bánh cho đến khi đủ độ chín như ý. Bánh vớt ra còn nóng hổi, bà thường lăn bánh nhiều vòng trên chiếc nong nhỏ. Bà bảo, lăn như thế bánh sẽ dền, dẻo, quyện nhuyễn gạo, ngon hơn.

Bánh chín để nguội cắt ra có mầu vàng trong, gạo quyện vào nhau tạo mầu hổ phách là đạt, là năm đó gia đạo bình an, làm ăn khấm khá, tốt lành. Phải vậy, mà mỗi độ Tết đến, xuân về, bà tôi rất cẩn trọng, cầu kỳ khi làm món bánh này.

Ngày Tết, khi có khách đến chơi, bánh cắt miếng khoanh tròn nhỏ bày trên đĩa, tưới lớp mật mía ngọt vàng óng lên, thanh mát ngọt dẻo, ai ăn một lần rồi nhớ mãi. Giờ, bánh nẳng bán đầy phố phường chứ không cần chờ đến dịp Tết. Nhưng tìm đúng vị bánh nẳng như bà làm thật khó! 

Bà đã đi xa rất xa! Chúng tôi bao năm nay nhớ bà cũng tập tành làm thử, nhưng vị thanh mát, dẻo quyện ngọt ngào của bánh không thể có lại như xưa!