Tuyệt kỹ nghề kêu cứu (kỳ 2)

Kỳ 2: Nghịch lý của tinh hoa
Từ sau khi cụ Lê Ngọc Nguyện ở thôn Đa Sỹ, phường Kiến Hưng, quận Hà Đông qua đời, tại đây không còn người làm và sửa đầu rồng, thân rồng thủ công để cung cấp cho các đội rồng.
Từ sau khi cụ Lê Ngọc Nguyện ở thôn Đa Sỹ, phường Kiến Hưng, quận Hà Đông qua đời, tại đây không còn người làm và sửa đầu rồng, thân rồng thủ công để cung cấp cho các đội rồng.

Nhiều sản phẩm được làm từ những đôi tay tài hoa không thể cạnh tranh với đồ công nghiệp, từ đó giới trẻ không mặn mà học hỏi, theo nghề gia đình. Cùng với đó, sự thiếu chính sách bền vững trong gìn giữ, bảo tồn, khuyến khích đã khiến không ít làng nghề truyền thống thiếu trợ lực. Nghề đã mai một thì khó có cách hay lưu giữ những tuyệt kỹ của nghề.

Tiếc nhưng nghề vẫn mất

Đã có một thời, dọc con đê sông Hồng qua các xã Mộc Nam, Mộc Bắc, Chuyên Ngoại (thị xã Duy Tiên, Hà Nam), chỗ nào cũng thấy hình ảnh những cuộn sợi tơ tằm được phơi. Để có nguyên liệu dệt lụa, người dân trồng dâu, nuôi tằm, kéo sợi, khiến cả vùng thành một “thủ phủ” khép kín của nghề. Cả vùng từng là vùng nguyên liệu cho không ít cơ sở dệt lụa, trong đó có làng Nha Xá (xã Mộc Nam). Thế nhưng đến nay, chỉ còn duy nhất làng Nha Xá (Mộc Nam) giữ nghề dệt lụa và nguồn sợi phải đi nhập từ nơi khác. Ông Nguyễn Văn Như tại đây chia sẻ: “Trước đây, chúng tôi chủ động luôn nguồn nguyên liệu. Nhưng nhiều năm nay, việc trồng dâu nuôi tằm không mang lại hiệu quả cao, nên người dân nhập sợi từ bên ngoài để sản xuất”.

Theo tìm hiểu, sở dĩ người Nha Xá giữ được nghề dệt một phần nhờ có những nghệ nhân, thợ giỏi. Và nghề đã mang lại nguồn thu nhập cao cho người dân. Tuy nhiên, trong thực tế, không phải làng nghề nào cũng có được may mắn như làng Nha Xá. Tìm hiểu tại thôn Từ Đài, Yên Mỹ 1 (xã Chuyên Ngoại), từ năm 2009 trở đi, các khung máy kéo sợi bị biến thành củi đun, do không còn ai sử dụng, cũng chẳng đem bán được. Ông Nguyễn Văn Cương chia sẻ: “Quê chúng tôi ngày xưa còn có nghề đan thuyền, đan thúng với kỹ thuật cực cao. Thế nhưng, sau năm 2000, nghề đó cũng tuyệt chủng do không cạnh tranh được với thuyền máy, thuyền tôn. Giới trẻ từ đó đi vào các doanh nghiệp trong khu công nghiệp để làm.

Cách thị xã Duy Tiên không xa, là các xã Minh Tân, Tri Thủy (huyện Phú Xuyên, Hà Nội), từng có nghề đan lát khá sôi động. Thế nhưng, từ sau năm 2003, những chiếc rổ, rá, sọt, cót, thúng, mủng… bằng tre với nhiều kỹ thuật đan khác nhau đã biến mất khỏi đời sống. Thay vào đó là đồ nhựa, đồ sắt và inox. Cụ Bùi Huy Bảo, thôn Bái Vàng (xã Minh Tân), chia sẻ một nghịch lý: “Cuộc sống đi lên, có những sản phẩm không còn được ưa chuộng, dẫu hình thức rất đẹp, người làm rất kỳ công. Thay vào đó, thị trường dùng sản phẩm công nghiệp, tiện lợi hơn. Từ đó, người trẻ trong làng đi làm nghề mộc, hoặc làm bánh mỳ để kiếm thu nhập cao hơn”.

Lại nói về nghề mộc, hiện nay có khá nhiều làng ở Phú Xuyên theo nghề, trong đó có thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, với nhiều thế hệ thợ tài hoa đã sản xuất đa dạng các sản phẩm đồ gỗ cao cấp như sập gụ, tủ chè, tủ thờ, khay, bàn, ghế, tranh gỗ... với những hoa văn, đường nét chạm trổ tinh vi, được chăm chút tỉ mỉ. Nghệ nhân Đỗ Đình Hòe, là người tiếp nối truyền thống gia đình, trở thành thợ giỏi nghề từ năm 15 tuổi. Đến năm 35 tuổi, ông trở thành người thợ xẻ được cánh cong để làm tủ đầu tiên trong cả nước. Ông Hòe tâm sự: “Trước đó, người ta chủ yếu làm tủ cánh phẳng, rồi tôi nghiên cứu ra cách cưa cong. Tức là cưa theo vanh khúc gỗ để đến khi chế thành cánh cửa tủ, tạo nên vẻ đẹp khác thường cho cả cái tủ chè”.

Đại Nghiệp nổi tiếng với các loại tranh gỗ điêu khắc, tủ chè chạm tích. Đây là loại tủ được thiết kế với ba phần chính là bệ, thùng và lèo. Tủ chè chạm tích lại được đục chạm kênh bong trên nền gỗ dày với họa tiết tích cổ. Những đường nét chạm trổ sắc nét, thanh thoát tinh sảo khắc họa chân thực các nhân vật, cây cối, chim chóc sống động, có hồn. Thế nhưng, theo nghệ nhân Đỗ Đình Hòe, suy thoái kinh tế đang khiến rất nhiều người làm nghề khó khăn. Đó là việc thị trường trong nước giảm sức mua, một số thị trường xuất khẩu truyền thống những sản phẩm có giá trị cũng như giá thành cao thì đang đóng băng. Cho nên, sản phẩm bị ùn ứ, chỉ để trưng bày.

Diện tích trồng bông ở xã Châu Tiến (huyện Quỳ Châu, Nghệ An) còn nhỏ hẹp.

Diện tích trồng bông ở xã Châu Tiến (huyện Quỳ Châu, Nghệ An) còn nhỏ hẹp.

Nghề cổ tự “quấn chân” mình

Ngẫm lại ngày xưa, các làng, thậm chí nhiều nhà làm nghề có những nét khéo léo riêng khi làm cùng một nghề. Nhưng các nghệ nhân, gia đình, dòng họ cũng chỉ truyền bí quyết riêng cho con cháu, hoặc theo những quy định ngặt nghèo trong việc chọn người nối nghề. Đó được coi như chìa khóa để cạnh tranh giữa các nhà và giữa các làng để bảo tồn nét độc đáo cho sản phẩm. Nhưng đến thời hiện đại và thời điểm hiện nay, tư duy đó đã không còn phù hợp. Có những làng đứng trước nguy cơ mai một, chỉ còn vài ba nhà, vài ba người giữ nghề. Tư duy cũ càng khiến cho nghề quý có nguy cơ biến mất. Thậm chí, còn xuất hiện một nghịch lý, là trước kia thì nhiều người giữ nghề, nhưng nay, có muốn truyền dạy cũng không dễ kiếm được người theo học.

Một lý do nữa, sự phai nhạt bản sắc nghề, mai một bí quyết, kinh nghiệm quý còn đến từ cách truyền nghề theo kiểu truyền thống, qua phương pháp truyền miệng, hướng dẫn bằng thực việc. Cách này có những ưu điểm riêng, nhưng cũng dễ dẫn đến việc không phải ai học cũng lĩnh hội được tinh hoa của người trước, mà dễ có sự rơi rụng, mai một từ thầy đến trò và thế hệ kế tiếp. Anh Ngô Quý Đức – Không gian Phường Bách Nghệ thí dụ: Như kỹ thuật mây tre, trước kia có những kỹ thuật đan rất đẹp, nhưng đến nay, nhiều nghệ nhân giỏi cũng khó lòng thực hiện được những kỹ thuật phức tạp như các cụ trước kia. Việc không có văn bản hóa, tư liệu hóa, công thức hóa cụ thể với những định lượng, chỉ số rõ ràng, đã phần nào gây ra sự bào mòn đáng tiếc của những kỹ thuật, bí quyết, kinh nghiệm hay qua thời gian nhiều chục hay hàng trăm năm.

Cả anh Ngô Quý Đức và chị Sầm Thị Tình cùng chung nhận định, nhiều nghề thủ công không còn cuốn hút giới trẻ bởi lao động trẻ phải đi làm công nhân ở xa, đến các khu công nghiệp, khu chế xuất mới bảo đảm thu nhập, đời sống. Có thể ai đó có đam mê với nghề cổ, nhưng đam mê đó không thể giúp họ ổn định. Hoặc không phải ai cũng muốn theo nghề, bởi không muốn “chôn chân” một chỗ mà muốn bay nhảy, đi xa.

Thiếu chính sách hỗ trợ

Theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), cả nước hiện có khoảng hơn 2.000 làng nghề, làng nghề truyền thống đã được công nhận. Trong đó hơn 1.400 làng nghề và hơn 650 làng nghề truyền thống. Mặc dù đa dạng làng nghề với nhiều nhóm nghề, song lại thiếu sự phát triển bền vững, thiếu những chính sách thiết thực từ phía các địa phương. Rất nhiều làng nghề, nghệ nhân phải tự bơi, tìm phương pháp để tồn tại.

Tại Festival Bảo tồn và phát triển Làng nghề Việt Nam 2023, rất nhiều ý kiến lo ngại khi nhiều làng nghề vẫn đang tiếp tục mai một. Nhiều nghệ nhân băn khoăn khi thiếu những chính sách hỗ trợ, giúp tiêu thụ sản phẩm, truyền dạy kỹ năng nghề, bảo tồn tuyệt kỹ làng nghề, thiếu đội ngũ kế cận.

Bản Hoa Tiến, xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu, được biết đến là một trong những địa chỉ dệt thêu thổ cẩm nổi tiếng và lâu đời nhất của người Thái ở tỉnh Nghệ An. Hơn chục năm trước, nghề trồng bông kéo sợi ở Hoa Tiến bị mai một. Năm 2018, qua dò hỏi, nghệ nhân trẻ Sầm Thị Tình, một người con của quê hương đã lặn lội lên tận vùng núi cao hẻo lánh Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên để xin giống bông về trồng. Tuy nhiên đến nay, số lượng bông chỉ đáp ứng được nhu cầu của gia đình. Chị Tình kiến nghị: “Tôi mong được các cấp chính quyền giúp đỡ, có thể mở rộng vùng trồng bông để nhiều hộ dân khác có nguyên liệu làm sợi”.

Hiện nay, các cơ quan chức năng đang có một số chính sách như: Nghị định 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 về Phát triển ngành nghề nông thôn và Quyết định 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình Bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030. Trong đó đưa nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ về tín dụng, mặt bằng sản xuất, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực tiễn, đòi hỏi những nỗ lực và trách nhiệm của các lực lượng chức năng, nhất là ở cơ sở. Trước hết, phải sớm xây dựng và triển khai các đề án bảo tồn làng nghề, hỗ trợ nghệ nhân, thợ giỏi. Làm sao để nghệ nhân, thợ giỏi sống bằng nghề của cha ông mình, để họ được cống hiến tài năng của đôi bàn tay tài hoa.

Để có truyền nhân, đồng thời níu chân người trẻ chung tay cùng các nghệ nhân giữ lửa nghề truyền thống, giữ bí quyết, tinh hoa nghề, theo ông Lưu Duy Dần, Chủ tịch Hiệp Hội làng nghề Việt Nam, phải tạo được sức sống của làng nghề. Sức sống đó chính là sự nhộn nhịp sản xuất, song hành với kinh doanh buôn bán. Khi làng nghề có sức sống nghĩa là có kinh tế, đã có thực để vực đạo.

(Còn nữa)

Tuyệt kỹ nghề kêu cứu (Kỳ 1)

Có thể bạn quan tâm