Trước những biến đổi của mô hình bệnh tật, quá trình già hóa dân số, tác động của biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao của người dân đối với dịch vụ y tế, ngành y tế Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện hơn bao giờ hết.
Đột phá khám, chữa bệnh từ chuyển đổi số
Sáng đầu tuần, lượng bệnh nhân tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đông hơn. Ông Nguyễn Văn H (62 tuổi, trú tại quận Long Biên, Hà Nội) đến để tái khám tim mạch. Thay vì phải xếp hàng từ sớm để làm thủ tục như trước đây, ông H chỉ mất vài phút đăng ký khám qua ứng dụng của bệnh viện. Khi đến nơi, mã QR cá nhân giúp ông được tiếp nhận nhanh chóng, toàn bộ thông tin khám, chữa bệnh, kết quả xét nghiệm, đơn thuốc của những lần khám trước đã được lưu trữ đầy đủ trên hệ thống bệnh án điện tử. “Trước kia, mỗi lần đi khám tôi phải mang theo cả tập giấy tờ, phim chụp, rất bất tiện. Giờ bác sĩ chỉ cần mở máy là nắm được toàn bộ quá trình điều trị của tôi. Mình cũng đỡ mệt mỏi, chờ đợi”, ông H chia sẻ.
Theo các bác sĩ tại Bệnh viện T.Ư Quân đội 108, việc triển khai bệnh án điện tử và các nền tảng số không chỉ giúp người bệnh thuận tiện hơn, mà còn hỗ trợ bác sĩ theo dõi sát diễn biến bệnh, nhất là với các bệnh mạn tính cần điều trị lâu dài. Nhờ dữ liệu được liên thông và cập nhật theo thời gian thực, quá trình chẩn đoán, điều chỉnh phác đồ điều trị trở nên chính xác và an toàn hơn.
Trao đổi ý kiến về định hướng chuyển đổi số, Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Hoàng Ngọc, Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Bệnh viện T.Ư Quân đội 108 cho biết: “Chuyển đổi số không phải là mục tiêu tự thân, mà là công cụ để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, giảm gánh nặng thủ tục cho người dân và giúp đội ngũ thầy thuốc tập trung hơn cho chuyên môn. Khi dữ liệu được số hóa và kết nối đồng bộ, người bệnh chính là đối tượng hưởng lợi lớn nhất”. Thời gian tới, Bệnh viện T.Ư Quân đội 108 sẽ tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống bệnh viện thông minh, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ chẩn đoán, điều trị, đồng thời kết nối sâu hơn với mạng lưới khám, chữa bệnh từ xa. Đây được coi là bước đi quan trọng nhằm xây dựng mô hình bệnh viện hiện đại, ngang tầm khu vực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân trong giai đoạn mới.
Không chỉ ở tuyến T.Ư, chuyển đổi số còn mở ra cơ hội nâng cao chất lượng y tế tuyến cơ sở. Thông qua hệ thống khám, chữa bệnh từ xa, nhiều ca bệnh phức tạp tại các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện đã được hội chẩn trực tuyến với các chuyên gia đầu ngành. Điều này không chỉ giúp giảm tỷ lệ chuyển tuyến, giảm chi phí cho người bệnh, mà còn góp phần nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ y, bác sĩ địa phương.
Chuyển trọng tâm từ điều trị sang dự phòng
Một trong những chuyển biến quan trọng trong tư duy chính sách y tế hiện nay là việc chuyển mạnh trọng tâm từ “chữa bệnh” sang “chăm sóc và phòng bệnh”. Thực tiễn cho thấy, mô hình bệnh tật ở Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng, với sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, ung thư, bệnh phổi mạn tính… Những bệnh này thường có thời gian điều trị dài, đòi hỏi chi phí lớn và ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng sống của người bệnh.
Trong bối cảnh đó, y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu được xác định là “tuyến đầu” bảo vệ sức khỏe nhân dân. Các chương trình tiêm chủng mở rộng, sàng lọc phát hiện sớm bệnh tật, quản lý bệnh mạn tính tại cộng đồng đang được triển khai ngày càng sâu rộng.
Tại Trạm Y tế xã Tân Lập (huyện Đan Phượng, Hà Nội), chương trình quản lý bệnh không lây nhiễm được triển khai gắn với hồ sơ sức khỏe điện tử của người dân đã mang lại những thay đổi rõ nét. Ông Trần Văn M (55 tuổi), một lao động tự do, trong một lần khám sức khỏe định kỳ do trạm y tế tổ chức, được phát hiện có chỉ số huyết áp và đường huyết cao bất thường, dù trước đó chưa từng đi khám vì “chưa thấy bệnh gì nghiêm trọng”.
Ngay tại trạm y tế xã, ông M được tư vấn về chế độ ăn uống, sinh hoạt, được hướng dẫn theo dõi huyết áp, đường huyết định kỳ và đưa vào danh sách quản lý bệnh mạn tính tại cộng đồng. Nhờ được phát hiện sớm và theo dõi thường xuyên, tình trạng sức khỏe của ông dần ổn định, không phải nhập viện điều trị, vẫn duy trì được công việc và sinh hoạt bình thường.
Cán bộ trạm y tế cho biết, nếu không được sàng lọc và can thiệp sớm, nhiều trường hợp tương tự có thể tiến triển nặng, dẫn đến biến chứng tim mạch, đột quỵ, vừa ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh, vừa tạo áp lực lớn cho bệnh viện tuyến trên. Thực tế cho thấy, khi y tế dự phòng và chăm sóc ban đầu được làm tốt, người dân không chỉ được bảo vệ sức khỏe từ sớm, mà còn hình thành thói quen chủ động đi khám định kỳ, thay đổi lối sống theo hướng lành mạnh hơn.
Ở góc độ bệnh viện, một số cơ sở y tế tuyến T.Ư và tuyến tỉnh cũng đã triển khai các chương trình sàng lọc ung thư, tim mạch, đái tháo đường kết nối với y tế cơ sở, giúp phát hiện sớm bệnh ngay từ cộng đồng, giảm số ca nhập viện ở giai đoạn muộn. Đây được coi là minh chứng sinh động cho sự chuyển dịch từ tư duy “chữa bệnh” sang “chăm sóc và phòng bệnh”, đặt y tế dự phòng ở vị trí trung tâm trong hệ thống y tế.
PGS, TS Nguyễn Thị Liên Hương, Thứ trưởng Y tế khẳng định: “Đầu tư cho y tế dự phòng là đầu tư cho tương lai, bởi phòng bệnh hiệu quả không chỉ giúp giảm gánh nặng chi phí điều trị cho người dân và xã hội, mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm phát triển bền vững đất nước”.
Phát triển kỹ thuật y khoa chuyên sâu
Cùng với chuyển đổi số và y tế dự phòng, phát triển các kỹ thuật y khoa chuyên sâu là trụ cột quan trọng trong chiến lược đổi mới chính sách y tế. Những năm gần đây, y tế Việt Nam đã ghi dấu ấn mạnh mẽ với việc làm chủ nhiều kỹ thuật hiện đại, từng bước tiệm cận trình độ khu vực và thế giới.
Tại các bệnh viện tuyến cuối như Việt Đức, Chợ Rẫy, T.Ư Huế, Bệnh viện K…, hàng nghìn ca phẫu thuật phức tạp đã được thực hiện thành công, từ ghép tạng, can thiệp tim mạch, phẫu thuật thần kinh, đến điều trị ung thư bằng các kỹ thuật tiên tiến. Đặc biệt, lĩnh vực ghép tạng của Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu nổi bật, với số ca ghép tim, gan, thận ngày càng tăng, mang lại cơ hội sống cho nhiều người bệnh.
Tại Bệnh viện K, điều trị chuyên sâu ung thư là một trong những hướng đột phá nổi bật, thể hiện năng lực y khoa cao của Việt Nam. Trong đó, các ca phẫu thuật điều trị ung thư phức tạp không chỉ tập trung vào loại bỏ khối u mà còn chú trọng tối đa hóa chất lượng sống sau điều trị. Gần đây, các bác sĩ của bệnh viện đã thực hiện thành công các phẫu thuật phức tạp tái tạo đường ăn cho bệnh nhân ung thư thanh quản - hạ họng, trong đó đoạn ruột được ghép nối để vừa bảo đảm chức năng ăn uống bình thường, vừa duy trì chất lượng sống sau điều trị. Đây là một trong những kỹ thuật chuyên sâu đòi hỏi phối hợp đa chuyên khoa và kỹ năng vi phẫu chính xác cao.
Bệnh viện cũng đang từng bước ứng dụng các công nghệ chẩn đoán và điều trị hiện đại như xạ trị proton và các liệu pháp điều trị theo hướng cá thể hóa, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp cận các tiêu chuẩn tiên tiến nhất của thế giới.
Lãnh đạo Bệnh viện K khẳng định, việc làm chủ các kỹ thuật y khoa chuyên sâu không chỉ giúp người bệnh ung thư được điều trị ngay trong nước với chi phí tiết kiệm hơn và thời gian hồi phục nhanh hơn, mà còn tạo nền tảng để đội ngũ thầy thuốc Việt Nam hợp tác rộng rãi với các trung tâm y tế lớn trên thế giới, chia sẻ kiến thức, nâng cao chuẩn mực điều trị và tăng cường nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực ung thư.
Ba trụ cột đổi mới chính sách y tế bao gồm: Chuyển đổi số trong khám, chữa bệnh; lấy dự phòng làm nền tảng; phát triển kỹ thuật y khoa chuyên sâu đang tạo nên một chỉnh thể thống nhất, hướng tới mục tiêu xây dựng nền y tế hiện đại, nhân văn và hội nhập. Theo lãnh đạo Bộ Y tế, một Việt Nam khỏe mạnh không chỉ là mục tiêu của riêng ngành y tế, mà là nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội. Những đột phá hôm nay chính là tiền đề để y tế Việt Nam vươn xa hơn, phục vụ tốt hơn cho nhân dân, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.