Hiện nay, trụ sở cơ quan hành chính các địa phương đã được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho chuyển đổi số được chú trọng nâng cấp như máy xếp hàng tự động, thiết bị giúp người dân tra cứu thông tin... Nhưng vẫn còn những trăn trở trong giai đoạn chuyển giao và chuyển đổi số. Những hạn chế về tiếp cận kéo theo những khoảng trống cơ hội khác.
Băn khoăn những điều chưa “khớp”
Các xã phản ánh tình trạng thiếu thốn nhân lực trong bối cảnh “thừa” áp lực. Theo ông Nguyễn Xuân Đà, Chủ tịch UBND xã Nậm Tăm (Lai Châu), một huyện trước đây có nhiều phòng chuyên môn ở các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, giáo dục, xây dựng… với khoảng 40-50 người nhưng hiện nay con số này giảm còn phân nửa. Khối lượng công việc lại lớn hơn gấp nhiều lần sau sáp nhập nhiều xã với tổng số hàng nghìn hộ dân.
“Trước yêu cầu thực tế hiện nay, với tinh thần làm hết việc, không phải hết giờ, cán bộ ở các xã vùng biên từ hơn 8 giờ sáng đã có mặt và chỉ rời văn phòng khi xẩm tối”, ông Vương Biên Thùy, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Dào San, tỉnh Lai Châu cho biết thêm. Nhưng về lâu dài, thiếu nhân lực vẫn ảnh hưởng tới hiệu quả khi xử lý công việc. Không ít cán bộ phòng kinh tế phải đánh giá các dự án về xây dựng hạ tầng, hay cán bộ phòng văn hóa thiếu chuyên môn về giáo dục, sư phạm. Ngoài ra, lãnh đạo xã kiêm nhiệm nhiều việc, kéo theo đó là yêu cầu trách nhiệm và áp lực ngày càng cao.
“Thí dụ như công tác chứng thực, có những ngày cao điểm, lãnh đạo thường trực của UBND xã phải ký hơn 100 lượt giao dịch chứng thực. Nếu như có cơ chế ủy quyền cho giám đốc trung tâm phục vụ hành chính công ký thay thì sẽ giảm tải rất nhiều cho các đồng chí lãnh đạo thường trực, giúp anh em có thời gian chỉ đạo công việc khác cũng như đi cơ sở gặp gỡ người dân”, ông Dương Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND xã Pà Vầy Sủ, tỉnh Tuyên Quang bày tỏ.
Chuyển đổi số cũng đòi hỏi cán bộ xã nâng cao trình độ tin học và công nghệ thông tin. “Thời điểm đầu, do chất lượng đường truyền internet ở địa phương thấp nên trang dịch vụ công quốc gia hay bị nghẽn mạng. Cán bộ công chức tiếp cận, thao tác trên trang còn nhiều bỡ ngỡ”, chị Nguyễn Thị Kim Huế, Trưởng phòng hành chính, UBND xã Nậm Tăm (Lai Châu) cho biết.
Đến cuối năm 2025, tỉnh Tuyên Quang vẫn còn nhiều thôn trong vùng lõm sóng, trắng sóng 4G như thôn Nấm Chanh, Nấm Trà - xã Nấm Dẩn, thôn Chế Là - xã Xín Mần… Yêu cầu về chuyển đổi số ở một số xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đang cho thấy bất cập khi người dân không thành thạo ngôn ngữ, chữ viết tiếng Việt. Lực lượng thanh niên - nòng cốt cho quá trình số hóa - phần lớn mưu sinh ở địa phương khác, dẫn tới khoảng trống thực thi với các thôn bản vùng sâu. “Cả thôn có 43 hộ nhưng chẳng có mấy thanh niên. Có hộ thì người Nùng, hộ thì người H’Mông, không ai biết tiếng Kinh, cũng không biết dùng điện thoại thông minh”, anh Sùng Seo Gia, Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Quán Dín Ngài, xã Xín Mần chia sẻ.
Một số khảo sát cho thấy, chưa tới 10% hộ DTTS ở các xã vùng biên giới phía bắc sở hữu máy tính và tiếp cập được internet. Nhiều nơi, bà con không biết tiếng Kinh, chưa từng truy cập internet. Ở mức thu nhập bình quân 25 triệu đồng/người/năm, bà con khó mua một chiếc điện thoại thông minh, chưa nói đến yêu cầu thực hiện những thao tác đòi hỏi đọc, hiểu văn bản pháp luật trên máy. Đại diện Tỉnh đoàn Lai Châu nhận xét, nhiều gia đình đồng bào chưa có điều kiện sử dụng 3G, 4G nên hạn chế tham gia hoạt động chuyển đổi số, nhất là việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ công trực tuyến. Khi muốn truy cập internet, người dân phải đến trung tâm xã, điểm bưu điện văn hóa xã hoặc sử dụng dịch vụ internet công cộng.
Không có điều kiện tiếp cận hoặc không biết mình được thụ hưởng những quyền lợi gì, nên nhiều hộ nghèo, cận nghèo không dám vay vốn ưu đãi từ ngân hàng chính sách. Bởi e ngại nếu vay mà không có hướng làm ăn, chỉ dựa vào chăn nuôi nông nghiệp thuần túy thì khó đủ khả năng trả gốc và lãi. Theo Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Hội Nông dân xã Xín Mần, ông Trần Đức Xuân, hiện thu nhập các hộ nghèo, cận nghèo so hộ trung bình còn chưa chênh nhiều. “Nhưng tiếc là không ít hộ thu nhập trung bình có năng lực sản xuất, có sẵn định hướng hiệu quả để bứt lên thì lại không thuộc diện được ưu đãi vay vốn, chưa được hỗ trợ nhiều", ông cho biết.
Tận dụng nguồn lực, chủ động thích ứng
Vừa làm thêm giờ và làm cả thứ 7, chủ nhật, cán bộ xã, cán bộ thôn, bản đã chủ động tự khắc phục khó khăn do thiếu nhân lực và trình độ bằng cách tham gia các lớp tập huấn AI, hoặc học thêm văn bằng, chứng chỉ. Một bộ phận đồng bào cũng ủng hộ, chủ động tìm hiểu và vận dụng sáng tạo những chính sách ưu đãi.
Tại xã Khổng Lào, tỉnh Lai Châu, nhiều dự án phát triển cây dược liệu dưới tán rừng như sa nhân, nhân sâm, hay nông sản như dong riềng, chanh leo… đã được triển khai. Hộ nghèo và cận nghèo được xã hỗ trợ máy tuốt lúa, máy cày; hợp tác xã được hướng dẫn xây dựng sản phẩm địa phương, hỗ trợ thủ tục pháp lý và tìm đầu ra thông qua kết nối với doanh nghiệp trong và ngoài nước. Nhờ vậy, tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm bình quân 4,2 %/năm.
Tại bản Huối Loỏng, xã Khổng Lào, nhờ chương trình tập huấn kỹ thuật, máy móc trang thiết bị cho thanh niên địa phương, nhiều em đã tạo thêm thu nhập cho bản thân. Em Phạm Thị Vàng, trưởng nhóm thu mua chuối cho đồng bào dân tộc ở Huối Loỏng chia sẻ: “Trong một tháng, chúng em có thể bán được 400-500 gói chuối sấy, riêng tháng cao điểm Tết có thể bán hơn 1.000 gói. Việc làm thêm giúp chúng em có thêm 1,5 tới 2 triệu đồng/tháng nhờ bán online hoặc bán cho thương lái từ Hà Nội, Hưng Yên, Phú Thọ. Chuối sấy của chúng em đã được phòng Nông nghiệp xã hỗ trợ giấy tờ đăng ký sản phẩm OCOP và vệ sinh an toàn thực phẩm”.
Ngô Quý Toàn, học sinh lớp 12 Trường THPT Than Uyên, xã Than Uyên (Lai Châu) đã kết nối với 5 điểm trường vùng cao tại nơi mình sinh sống, kêu gọi được 70 tình nguyện viên là sinh viên từ các trường đại học Sư phạm, Kinh tế Quốc dân, Ngoại thương và mở hơn 50 lớp học tiếng Anh online miễn phí cho gần 300 em học sinh và 51 giáo viên tại các điểm trường. Gần 400 tiết học đã được giảng dạy từ tháng 5/2025 đến nay. Nhóm của Toàn còn kết nối mở câu lạc bộ với hơn 30 học sinh liên tỉnh Tây Bắc có trình độ tiếng Anh tốt muốn tìm cộng đồng học tập, tổ chức 22 buổi giao lưu online với các lớp học quốc tế đến từ 5 quốc gia (Mỹ, Hàn Quốc, Ấn Độ, Singapore, Philippines).
Phàn Thị Chéng là nữ sinh dân tộc Dao tại xã Khổng Lào, Lai Châu. Việc tham gia khóa học nghề do Plan International (PI) Việt Nam phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh triển khai đã tạo thành bước ngoặt lớn với em. Được giáo viên, cán bộ xã và nhóm dự án động viên, Chéng quyết tâm vượt 60 km đường núi tham gia lớp học. Sau khi tốt nghiệp, Chéng được hỗ trợ dụng cụ, nguyên liệu và một phần vốn để khởi nghiệp cửa hàng bán chè đầu tiên ở bản. Giờ đây cô gái từng bị định đoạt “phải lấy chồng sớm” đã trở thành doanh nhân trẻ độc lập và tự tin, có thu nhập ổn định trên dưới 15 triệu đồng/tháng và truyền cảm hứng cho nhiều bạn gái khác trong cộng đồng.
Những thành công như trên cho thấy vai trò rõ rệt của việc dạy nghề, “trao cần câu chứ không trao con cá”, tăng cơ hội việc làm cho thanh, thiếu niên DTTS. Đại diện PI tại Việt Nam nhấn mạnh: “Với sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, việc sáp nhập địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi để các chương trình phát triển vì trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái và đồng bào DTTS, được triển khai hiệu quả và có tác động sâu rộng hơn trong thời gian tới”.
Sùng Thị Thu nhớ lại những ngày cao điểm thực hiện đề án về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số ở Xín Mần. Thu đã phải huy động mãi mới đủ số lượng đoàn viên, thanh niên tham gia Tổ công nghệ số cộng đồng tại địa phương, khi hướng dẫn người dân đăng ký mã định danh, cài đặt, kích hoạt phần mềm VneID. Nhóm “đi từng ngõ, gõ cửa từng nhà” ở nơi các cụm dân cư cách nhau tính bằng quả núi.
(Còn nữa)