Nhưng hành trình đánh thức tiềm năng ấy đồng thời đặt ra bài toán phải tổ chức lại kinh tế hồ chứa theo hướng bền vững.
Không chỉ nuôi cá đơn thuần, mô hình nuôi trồng thủy sản sinh thái hướng tới tái tạo nguồn lợi tự nhiên, xây dựng thương hiệu “cá sinh thái Thác Bà” và tạo sinh kế bền vững cho cư dân vùng hồ.
Cuối năm 2024, Công ty cổ phần Nuôi trồng và Chế biến Thủy sản Việt Nam (Vietfood VN) phối hợp với Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Yên Bái (nay thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lào Cai) thả trên 10 triệu con giống, như mè, trôi, trắm..., hướng tới mô hình nuôi cá gần tự nhiên quy mô lớn, thân thiện môi trường, phù hợp hệ sinh thái lòng hồ. Từ đó, các tổ cộng đồng quản lý cũng ra đời.
Theo ông Lý Mạnh Linh, Phó Chủ tịch UBND xã Ngọc Chấn, mô hình này tập hợp những người trước đây khai thác tự phát thành lực lượng có tổ chức, theo Điều 10, Luật Thủy sản 2017. Người dân không còn đánh bắt đơn lẻ mà trở thành thành viên có trách nhiệm, đồng thời là đối tác của doanh nghiệp.
Nếu vận hành hiệu quả, hồ Thác Bà sẽ không chỉ là nơi khai thác tự nhiên, mà mở ra không gian kinh tế cộng sinh, nơi doanh nghiệp đầu tư, người dân cùng bảo vệ và hưởng lợi từ nguồn lợi thủy sản được tái tạo bền vững.
Tuy nhiên, theo bà Lương Thị Phương Thảo, Tổng Giám đốc Vietfood VN, quá trình triển khai cho thấy rào cản lớn nhất không nằm ở kỹ thuật hay vốn đầu tư, mà ở sự thiếu đồng bộ trong quản lý khai thác nguồn lợi trên hồ.
Doanh nghiệp phải hoàn thiện đầy đủ thủ tục, đầu tư con giống, nhân lực, tài chính, trong khi, nhiều người dân địa phương hoặc người từ nơi khác đến vẫn khai thác tự do, không xin phép, không đăng ký, không tuân thủ quy định an toàn giao thông đường thủy. Ai đánh bắt được bao nhiêu thì thu về bấy nhiêu. Điều này khiến doanh nghiệp khó yên tâm đầu tư dài hạn. Bà Thảo chia sẻ: “Không có nhà đầu tư nào sẵn sàng rót vốn lớn nếu nguồn lợi mình bỏ tiền gây dựng lại bị khai thác vô tội vạ”.
Một bất cập khác là tình trạng đánh bắt tận diệt vẫn tồn tại: Vó lưới mắt nhỏ kết hợp với ánh sáng đèn, xung điện, kích điện, thậm chí chặn các eo ngách bằng lưới hoặc đắp đập để vét cá. Trong khi đó, doanh nghiệp không có thẩm quyền xử lý vi phạm, còn lực lượng kiểm tra mỏng, diện tích hồ rộng, địa bàn trải dài qua nhiều xã nên việc kiểm soát rất khó khăn.
Hệ thống pháp luật hiện nay, như Luật Thủy sản 2017 chủ yếu thiết kế cho khai thác biển, trong khi hồ chứa là vùng nước nội địa bán tự nhiên, có đặc thù rất khác. Ranh giới giữa cá tự nhiên và cá doanh nghiệp thả tái tạo không thể xác định rõ. Muốn triển khai một dự án phải đi qua nhiều cơ quan: nông nghiệp và môi trường, giao thông, thủy điện, du lịch, chính quyền địa phương…, nhưng lại thiếu đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng.
Bà Thảo cho rằng cần một cơ chế quản lý minh bạch hơn: Không cấm người dân khai thác, nhưng phải cấp phép, quản lý nghề khai thác, tổ chức đồng quản lý để người dân cùng bảo vệ nguồn lợi và cùng chia sẻ lợi ích. Chỉ khi người dân trở thành chủ thể trong chuỗi giá trị, thay vì đứng ngoài cuộc chơi, kinh tế thủy sản hồ chứa mới có thể phát triển bền vững.