Nơi “bình minh không yên tĩnh”
Khi nói về Xốp Mạt - một bản của đồng bào dân tộc Thái ở xã Lượng Minh (Tương Dương, Nghệ An), không ít người vẫn nguyên cảm giác rùng mình về một “thủ phủ ma túy” miền tây xứ Nghệ. Bản Xốp Mạt ít dân mà có hàng chục người nghiện ma túy. Có những gia đình mấy thế hệ đều vào tù vì buôn bán “cái chết trắng”. Một thời, người ta nói rằng mua ma túy ở đây còn dễ hơn mua rau cũng không có gì quá đáng.
Trưởng bản Lương Văn Thiện.
Bên bờ dòng sông Nậm Nơn, mảnh đất nhỏ bé này còn có thêm những biệt danh nghe quá não lòng, đó là bản của “trẻ mồ côi”, hay “bến không chồng”. Câu nói của một cụ già ngồi trầm tư trước căn nhà trống hoác ở đầu bản thật sự buốt nhói: “vẫn có chồng, có cha đấy chứ, nhưng lâm vào cảnh buôn bán ma túy nên đàn ông bị bắt... đi tù hết cả rồi”. Không khó để nhận ra những vách lán tiêu điều không có đàn ông, những đứa trẻ sinh ra không bao giờ được hưởng trọn vẹn tình yêu thương của cha mẹ, những luống nương rẫy thiếu bàn tay người vun xới.
Lũ trẻ con còi cọc, nheo nhóc trong bộ quần áo tả tơi cứ trố mắt nhìn theo những bóng người lạ. Những người đàn bà ngồi bên bậu cửa ngơ ngác nhìn khách vãng lai, mặt buồn rượi, dấu hiệu vừa kinh qua đại họa ma túy... Tôi kín đáo chớp vài pô ảnh. Nhưng chắc dù tay máy có kỳ cựu đến đâu cũng không thể bắt hết thần thái nhiều gương mặt ngơ ngác, sợ sệt và mệt mỏi.
Địa chỉ đầu tiên chúng tôi đến là nhà trưởng bản Lương Văn Thiện, tuổi chưa đến 30. Anh gây thiện cảm ngay từ phút đầu gặp gỡ với nụ cười kín đáo và cái bắt tay rụt rè. Tôi hỏi liệu có phải cái tên của anh là niềm mong mỏi và kỳ vọng của bố mẹ vào anh, hay là một điều nhắc nhở tới mọi người dân Xốp Mạt hãy tránh xa những nỗi đau một thời. Trưởng bản Lương Văn Thiện cười nhẹ bảo cũng không rõ nữa, nhưng anh biết rằng, mình không bao giờ dính líu đến “cái chết trắng” dù một thời từng sống giữa cơn lũ mang tên ma túy. Và từ trước, bây giờ, cho đến sau này anh vẫn luôn cố gắng là một tấm gương để đánh thức tâm hồn “hướng thiện” cho những con người từng một thời lầm lỡ.
Bản tái định cư mới không còn quá lo cái đói, không còn lo ma túy, hay lở đất như trước. Tuy nhiên, những hệ lụy cơn lốc “cái chết trắng” để lại còn quá nặng nề. Số hộ nghèo vẫn còn chiếm quá nửa, mà đa phần rơi vào những hộ một thời có dính líu đến ma túy. Có những người đã trở về sau khi mãn hạn tù, họ vẫn sống một cuộc sống lay lắt, không biết tương lai đi đâu về đâu?
Héo mòn phận người
Chiều tàn trên bản vắng, không khí càng như u buồn thêm. Mãi mới có hình bóng một vài người phụ nữ lùa mấy con trâu về bản. Thấy bóng người lạ, họ nhanh chóng lánh mặt đi sau những căn nhà đìu hiu, vắng vẻ. Trưởng bản phải thuyết phục mãi, những người phụ nữ này mới chịu ra ngồi tiếp chuyện. Câu chuyện về cuộc đời của họ, chúng tôi không khỏi chua xót. Nó vẫn luôn là một lời cảnh tỉnh không bao giờ cũ với nỗi đau mang tên ma túy.
“Tui chăn trâu thuê cho người ta kiếm miếng ăn đó, chứ giờ làm gì còn cái gì, có hối hận cũng đã muộn rồi nhà báo à!”, chị Kha Thị Tích bật khóc khi chúng tôi ngỏ ý muốn được chia sẻ về quãng đời lầm lỡ. Chị Tích có vẻ bề ngoài trông già hơn hẳn so với cái tuổi 40. Hồi vợ chồng chị mới lấy nhau, họ cũng hạnh phúc với bao dự định tốt đẹp. Nhưng rồi, cơn bão ma túy tràn qua Xốp Mạt khiến gia đình nhỏ ấy phút chốc tan tành. Đầu tiên là anh chồng tên Vi Văn Việt nghiện ngập, của nả cứ trôi dần đi hết. Hồi năm 2006, nhìn hai đứa con đến tuổi đi học mà vẫn cứ nheo nhóc, bữa đói bữa no, chị Tích nhắm mắt đánh liều mò lên trên rẫy lấy hê-rô-in về bán kiếm lời. Tuy nhiên, mới ngay lần đầu đã bị bắt. Năm năm sau mãn hạn tù, khi về thì nhà cửa trống huơ trống hoác, mạng nhện giăng kín. Sau chị mới biết chồng mình cũng buôn ma túy bị bắt năm 2008 và bị kết án chung thân. Hai đứa con sống vật vờ rồi biệt xứ, đi đâu không ai biết. Nay chị Tích chỉ lặng lẽ sống một mình, ngày ngày lên rừng kiếm củi, đào măng, hoặc đi chăn trâu thuê. Tiền công thu về cũng chỉ đủ bữa cơm đạm bạc qua ngày. Hỏi về dự định sắp tới, chị bảo cũng không biết, được ngày nào hay ngày đó. Lúc này còn khỏe mạnh thì không nói làm gì, nhưng lỡ đau ốm rồi thì có lẽ chỉ còn trông chờ vào sự đùm bọc của bà con dân bản.
Chị Tích, chị Thải và bà Thông “sống mòn” ở “bến không chồng”. .
Câu chuyện của chị Lô Thị Thải cũng ảm đạm không kém. Như một lời nguyền không dứt, người đàn bà kham khổ này tiếp tục kiếp “sống mòn”, cảnh không chồng không con, không nơi nương tựa năm này qua năm khác. Lóa mắt vì tiền chị đã xách thuê ma túy, bị bắt quả tang. Khi ra tòa, chị Thải không cầm được nước mắt khi nhìn thấy hai đứa con dại cứ ngơ ngác gọi mẹ. Lúc đó, chị chỉ biết trông cậy tất cả vào chồng, dặn dò anh cố gắng. Ra tù, chị mới vỡ lẽ chồng cũng đã nối gót buôn ma túy, phải vào tù “bóc lịch” tới 15 năm. Sau chuỗi ngày bơ vơ cùng cực, hai đứa con bỏ xứ biệt tăm. Trơ trọi, không ai cậy nhờ, lại mắc nhiều bệnh, chị Thải không thể làm việc nặng mà chỉ biết ngày ngày lên rừng hái măng kiếm sống. Có những lúc cơn đau trong người tái phát, chị đành nằm một chỗ và sống nhờ vào tình thương của dân bản. Nỗi đau hằng ngày gặm nhấm, giày vò khiến chị chẳng thể có một phút giây thanh thản.
Gần đó, bà Lô Thị Thông có bốn người con và gần chục đứa cháu. Một mình bà Thông cáng đáng nuôi bốn đứa cháu trong nhà. Ba người con dính vào ma túy, con dâu và con rể cũng không thoát khỏi. Hết nuôi con giờ đến nuôi cháu, cuộc sống vốn cơ cực, gánh nặng cơm áo giờ lại càng đè nặng lên vai người đàn bà đã qua tuổi lục tuần. Bà bật khóc và bảo giá như không có cái đói và cơn bão ma túy không tràn qua bản, giá như những người thân của mình không một lần trót dại... nhưng tất cả đều đã quá muộn.
Trưởng bản Lương Văn Thiện còn dẫn chúng tôi qua mấy ngôi nhà nữa, đều là những hoàn cảnh tương tự. Vẫn là những khuôn mặt buồn, ngấn lệ của những người đàn bà ngồi bên bậu cửa trong những căn nhà vắng bóng đàn ông, u ám tựa màn sương mù đọng mỗi khi chiều về bên dòng Nậm Nơn. Anh Thiện bảo, ông trời dường như vẫn giận Xốp Mạt, bản tái định cư mới phải chuyển mấy lần mới tránh được sạt lở và cái nắng nóng gay gắt khiến vụ này không có nhà nào làm rẫy được, ngô trồng vừa ra gần bằng gang tay đều chết cháy hết. Những người phụ nữ cô quạnh đành kéo nhau đi kiếm sống khắp nơi. “Người sang Trung Quốc, người đi Quảng Trị, Quảng Bình... ra ngoài còn có tiền bạc gửi về giúp đỡ những người ở lại, chứ nhà mô không có người thì chỉ còn biết rau măng qua ngày”.
Chia tay Xốp Mạt, bản làng nhỏ bé bên dòng Nậm Nơn, chia tay anh trưởng bản có nụ cười hiền, tôi vẫn không khỏi day dứt. Tôi không dám có ý nghĩ bi quan như một số người đã gặp, bảo rằng “mạt” là mất, là hết, chỉ mong mảnh đất có cái tên như cách gọi của người Thái là “cửa sông, suối” ấy nước sẽ trong trở lại, mùa vui sẽ rộn rã mọi nếp nhà.