Những ngày trước khi diễn ra Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm, có thể thấy tần suất khá dày các nội dung trên báo chí cũng như mạng xã hội về nỗ lực khẩn trương số hóa di sản văn hóa Chăm. Điều đó đã tạo nên hiệu ứng khác biệt, thôi thúc nhiều người quét QRcode hoặc truy cập vào cổng thông tin điện tử Văn hóa Chăm của tỉnh Khánh Hòa để tìm hiểu về Ngày hội. Theo đó, các di tích văn hóa Chăm nổi tiếng tại Khánh Hòa như Tháp Pô Nagar, Tháp Pô Klong Garai, Tháp Pô Rômê, Tháp Hòa Lai cùng phần Trưng bày văn hóa Chăm được chụp và mô phỏng theo mô hình 3D, có thuyết minh, thông tin, âm nhạc… vô cùng kỹ lưỡng, đặc sắc.
Ông Lê Văn Hoa, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa, cũng là một chuyên gia trong lĩnh vực di sản, phân tích: Một trong những yếu tố quan trọng để bảo tồn di sản chính là làm sao để di sản luôn hiện diện trong tâm trí của mọi người, mà số hóa di sản chính là việc giúp tất cả mọi người có thể tiếp cận với di sản một cách nhanh chóng. Một em học sinh khi học về văn hóa Chăm, hay một người nước ngoài quan tâm tới văn hóa Chăm, có thể tiếp cận di sản số hóa rất nhanh chỉ với một cú chạm trên QRcode. Rồi từ đó, có thể dẫn đến việc đến tận nơi, tham quan, tìm hiểu.
Tại hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm trong kỷ nguyên mới”, nhiều chuyên gia nghiên cứu đầu ngành đã nhấn mạnh, các thông tin về văn hóa Chăm cần phải được chuyển tải chính xác, nhất là từ phía các hướng dẫn viên du lịch, trong đó có các hướng dẫn viên người nước ngoài. Đây là một yêu cầu cấp thiết và quá trình số hóa di sản sẽ góp phần chuẩn hóa thông tin. Chẳng hạn, tại các điểm tham quan, di tích đều có các mã QR, địa chỉ website để du khách tham khảo. Nghĩa là ngoài việc nghe các hướng dẫn viên trình bày, thì chính du khách cũng có thể tham khảo, đối chiếu với thông tin chính thống từ cơ quan quản lý. Thông tin chuẩn xác, thông suốt sẽ thu hút được sự quan tâm, tìm hiểu của du khách. Từ đó, họ có thể tìm hiểu thêm các di tích khác hoặc quay lại nhiều lần, và điều này tất nhiên có lợi cho kinh tế di sản.
Một lợi ích nữa là việc theo dõi hiệu quả của hoạt động thông qua số hóa. Ngoài việc thống kê dựa vào doanh thu cơ sở lưu trú, dịch vụ hay số lượng du khách, việc thống kê các lượt truy cập di sản được số hóa cũng có thể xem là thước đo quan trọng về sức hút của kinh tế di sản. Thông qua thống kê, cơ quan quản lý có thể thống kê được nhóm du khách nào quan tâm đến loại hình di sản nào, để từ đó lại có thêm những giải pháp để phát triển kinh tế di sản cũng như có các biện pháp quản lý tối ưu nhất.