Chiến lược mới cần cách làm mới

TS Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể Thao TP Huế, Ủy viên Thường vụ Hội Di sản Văn hoá Việt Nam, phân tích: Các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước trong thời gian gần đây đều hướng tới cách tiếp cận mới với di sản mà theo đó, không chỉ là đối tượng bảo tồn, di sản còn là nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội.

TS Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể Thao TP Huế, Ủy viên Thường vụ Hội Di sản Văn hoá Việt Nam, phân tích: Các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước trong thời gian gần đây như Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về Phát triển văn hoá Việt Nam, Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030… đều hướng tới cách tiếp cận mới với di sản mà theo đó, không chỉ là đối tượng bảo tồn, di sản còn là nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội. Thuật ngữ “Kinh tế di sản” (heritage economy) đã được phân tích ở nhiều khía cạnh, nhưng tựu chung sẽ là việc phát huy, khai thác các giá trị của di sản để tái đầu tư, phát triển công tác bảo tồn.

Việt Nam có hơn 40.000 di tích được kiểm kê, 153 di tích quốc gia đặc biệt, hơn 3.600 di tích quốc gia, gần 500 di sản văn hóa phi vật thể… Nhưng có một thực tế là lâu nay phần đông công chúng vẫn tiếp cận với di sản có phần thụ động. Nhiều người không có thói quen đi tham quan bảo tàng, di tích ngay tại địa phương mình đang sinh sống. Theo chiều ngược lại, bảo tàng tại các địa phương cũng chưa có nhiều chương trình, nội dung tạo ra sức hút. Nên bắt nguồn xây dựng thói quen tiếp cận với di sản ngay tại địa phương, vừa để đặt nền móng cho các nguồn lực nội sinh, vừa để khi có thói quen tốt, người dân đi du lịch cũng xem việc tham quan di sản như một trong các hoạt động ưu tiên.

Không ít kênh nội dung trên mạng xã hội liên quan đến di sản có lượt theo dõi (follower) và lượt xem (views) rất cao. Nhưng thực tế là những nội dung liên quan đến di sản có phần bị phân mảnh, và ít khi tạo thành một xu hướng (trend) lớn và lâu dài. Như vậy, cần những kế hoạch cụ thể và mới mẻ từ các cơ quan quản lý di sản, chuyên gia, các đơn vị trong ngành du lịch trong việc quảng bá di sản, di tích theo “ngôn ngữ” của thời đại, mà thực thi có thể là những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội (KOL). Câu chuyện thật ra không chỉ nằm ở KOL góp phần lan tỏa di sản, mà ở cách tiếp cận trong bối cảnh các xu hướng, lối sống liên tục thay đổi trong thời đại công nghệ. “Chúng ta cần những cách kể chuyện về di sản theo hơi thở thời đại, tức là phải luôn có những hình thức vừa mới nhất, vừa phù hợp nhất thì mới tiếp cận với số đông nhất được. Cần có một bộ khung chiến lược tổng thể nhưng trong đó sẽ là sự linh hoạt về giải pháp”, TS Phan Thanh Hải nhấn mạnh.

Đơn cử như việc quảng bá về di sản văn hóa địa phương thông qua ẩm thực. Nếu chỉ thuần túy giới thiệu một món ăn nào đó và dừng ở khẩu vị như ngon hay không, ngọt, nhạt, cay, nồng thế nào… thì mới chỉ ở phạm vi ẩm thực. Mở rộng ra những câu chuyện sau mỗi món ăn, tới nguyên vật liệu, cách chế biến, thì có thể giới thiệu được cả lối sống, về đặc điểm tự nhiên, địa lý của vùng đất đó. Nghĩa là cách kể chuyện để quảng bá về di sản phải sâu sắc hơn và có tính liên kết giữa di sản và nhiều yếu tố khác để tạo ra sự lan tỏa tổng thể.