Tình người làng muối

Dọc ven biển, nơi nước gặp đất, sóng gặp phù sa, hàng vạn diêm dân vẫn lặng lẽ chắt chiu từng chút nước, lấy cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà hóa thành hạt mặn cho đời. Không đơn thuần là một nghề, với họ muối là sự tiếp nối, là tình yêu và cách tri ân vùng đất đã nuôi dưỡng gia đình qua bao thế hệ.

Du khách tham gia chương trình du lịch học tập trên đồng muối Sa Huỳnh.
Du khách tham gia chương trình du lịch học tập trên đồng muối Sa Huỳnh.

Muối đã là lẽ sống!

Người dân ấp đảo Thiềng Liềng (xã đảo Thạnh An, Thành phố Hồ Chí Minh) vẫn gọi cậu bé Nguyễn Quốc Khánh là “diêm dân trẻ nhất”. Bảy tuổi, Khánh thành thạo các công đoạn thu hoạch muối. Khánh cũng là thế hệ thứ năm trong đại gia đình diêm dân. Khi tôi hỏi nhà ông Năm Đổi (Nguyễn Văn Đổi), Năm Lâm (Nguyễn Ngọc Lâm)…, chị Út Lượm (Nguyễn Thị Ngọc Sương) - mẹ Khánh cười hiền: “Đó đều là các ông cậu. Xưa ông cố tôi mần muối bên Gò Công (tỉnh Tiền Giang cũ, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), rồi bốn người con của cố đưa con cái tới Thiềng Liềng khai hoang, mần muối tới nay”.

Cuối ấp, nhà ông Năm Đổi hướng ra đồng muối lộng gió. Nhắc đến những ngày hạt muối theo chân gia đình đến xứ này, ông Năm Đổi cho biết: “Hồi năm 1974, mấy anh em của ba tôi dắt theo con cái tới đây. Ngày đó giống như đi làm kinh tế mới vậy. Cha con, anh em, chú cháu chặt đước, chặt dừa khai hoang lấy đất dựng nhà lá, lấy ruộng mần muối. Gia đình tôi chỉ có chú Út ở lại Gò Công để chăm má”. Bà Năm Đức (vợ ông) nhớ: “Trước khi tôi lấy ổng đâu có biết mặt, vì ổng ở tuốt Thiềng Liềng. Tôi ở Gò Công với má chồng mấy năm rồi cũng qua đây”. Nói đoạn, bà Năm rưng rưng khi nhớ những ngày đại gia đình ông Năm nhờ hạt muối mà có tiền gửi về Gò Công xây cất nhà cửa, mua xe máy cho chú Út. Và cũng nhờ hạt muối mà ba trong sáu đứa con của ông bà được ăn học trong thành phố rồi lập nghiệp tại đây.

Ông Năm ít nói, cả ngày lụi cụi ngoài đồng muối - kể cả mùa mưa ruộng để trống trơn. Dường như với ông, ruộng muối không khác một thành viên trong gia đình. Sản lượng muối cha con ông thu hoạch được luôn cao nhất nhì Thiềng Liềng. Ông cười hiền: “Tôi là chi hội trưởng chi hội nông dân nên phải làm gương cho bà con chớ. Nhờ nghề muối mà gia đình tôi mới được như hôm nay. Nhờ hạt muối mà tôi thành nông dân giỏi của thành phố, được đi khắp nơi học hỏi kinh nghiệm sản xuất. Nghề muối cũng đang nuôi sống hai vợ chồng và gia đình của ba đứa con trai, thì mình phải biết ơn chớ”.

Ở xã Trí Hải, tỉnh Khánh Hòa (tỉnh Ninh Thuận cũ), bà Trần Thị Tân là tỷ phú diêm dân. Bà mua hai suất đất, dựng nhà lầu đều từ hạt muối. Bà không lớn lên cùng diêm nghiệp mà tham gia thanh niên xung phong rồi được nhà nước cử đi học Trường trung học Kỹ thuật Muối (nay là Trường cao đẳng Kinh tế và Công nghệ thực phẩm, đóng tại Hải Phòng). Khi thành lập các diêm trường ở khu vực Nam Trung Bộ, bà Tân cùng khóa 10 của trường đã học thêm sáu tháng - tại chính những vùng đất mở diêm trường - trước khi bắt tay vào thiết kế, xây dựng các cánh đồng muối rộng lớn như Đầm Vua, Vĩnh Hảo…

Hơn cả một nghề nghiệp, muối với bà là lẽ sống. Bà đã rời vị trí quản lý để trở thành một diêm dân thực thụ. Bởi bà nhận thấy sự lãng phí tài nguyên, sự thiếu hụt tri thức đang hạn chế hạt muối quên hương được vương xa. Người làm nghề tâm huyết là thế, nhưng cái khó cũng vấn bủa vây. Ngẫm ngợi và hành động, bà muốn tự tay làm ra những hạt muối đạt chuẩn, đúng quy trình khoa học. Bà nhớ: “Thời tôi làm kỹ thuật, mưa 50 mm vẫn thu hoạch muối như bình thường. Hễ trời mưa, là tất cả cán bộ kỹ thuật phải lao ra đồng muối, bất kể nửa đêm, rạng sáng để tháo nước ngọt ra khỏi ruộng muối thật nhanh. Vì chỉ cần tăng độ mặn lên 0.1 là đã tăng được 5% sản lượng”. Một đời gắn với muối mặn, bà luôn đau đáu với việc làm sao để diêm dân của cả vùng cùng phát triển, rồi kéo lớp trẻ trở về, bám đất, bám nghề. Bốn người con của bà Tân, thêm ba con dâu, rể - dù học đại học hay đã là viên chức huyện, bà cũng kéo về. Bốn người trực tiếp sản xuất cùng mẹ, hai người phụ trách giao vận, con gái út nhận quảng bá, giới thiệu sản phẩm muối đa dạng lên các sàn thương mại điện tử…

gen-h-z7375825121639-68f7e95fe3717548106d207482a6020d.jpg
Nguyễn Quốc Khánh, bảy tuổi, diêm dân nhí của ấp đảo Thiềng Liềng.

Điểm tựa sinh thái Thiềng Liềng...

Đồng muối Thiềng Liềng hôm nay là trọng tâm của Dự án Mô hình Du lịch Cộng đồng Thiềng Liềng, do Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế và Du lịch (ITERD) và các hộ dân trong ấp triển khai từ năm 2022. Thiềng Liềng đã được du khách bình chọn là một trong 10 điểm đến thú vị của thành phố. Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết từ Đồng Nai về làm vợ ông Năm Lâm. Tình yêu, sự gắn bó với nghề muối của gia đình nhà chồng đã ngấm sang bà. Vừa đứng đầu Hợp tác xã Du lịch Cộng đồng Thiềng Liềng - điều phối hoạt động đón, dẫn khách đến các hộ thành viên, bà Tuyết vừa mày mò chế biến để hạt muối xứng tầm góp mặt vào sản phẩm du lịch của ấp.

Ở Thiềng Liềng, diêm dân không chỉ thu hoạch từng “hạt ngọc trời” mà còn vun bồi đất ruộng, dòng nước, hàng cây. Bà Tuyết vẫn nhớ buổi họp dân đầu tiên của dự án du lịch học tập: “Mình không làm du lịch kiểu xô bồ. Phải giữ được chất đất và người Thiềng Liềng. Nói với khách về hạt muối, là phải nói được cả về rừng đước, về cách dân mình giữ đất, giữ nước như giữ một phần máu thịt”. Từ đó, mỗi hộ tham gia hợp tác xã đều đồng thuận: giữ nền ruộng hoàn toàn tự nhiên, không xả nước thải xuống rạch, dọn rác định kỳ, giữ sạch bờ ruộng… Bà Tuyết nói: “Không có môi trường tốt thì muối dễ hư, nước dễ bẩn. Nhưng làm sạch không chỉ vì muối. Mình còn muốn giữ được cá, cua, ba khía - thứ hồi nhỏ đi ra đồng một buổi là có cả rổ mang về. Giờ tụi nó đã trở lại”.

Ở Sa Huỳnh, hạt muối cũng gắn với hành trình đi rồi trở về của những người từng nghĩ phải rời quê mới “nên người”. Ông Ngô Điệp - diêm dân giỏi nhất vùng - từng đưa ba con vào thành phố học hành, làm việc, nhưng rồi lại lặng lẽ trở về và nhận ra: Để “nên người”, đôi khi phải biết về với cội nguồn. Trở lại đồng muối quê nhà, ông Điệp không chỉ là người làm nghề, mà còn là một trong những hạt nhân lan tỏa tinh thần sinh thái, bền vững, cộng đồng tại Sa Huỳnh. Gặp cô cử nhân Luật Phạm Hồng Thắm, người rời phố về quê lập nghiệp - vực dậy nghề muối quê hương, cũng là người sáng lập thương hiệu muối Sahu - ông Điệp dần được truyền cảm hứng, rồi toàn tâm theo đuổi hướng làm muối sạch, thủ công gắn với bảo tồn môi trường. Từ những ngày đầu cùng nhau dọn rác ngoài đầm, trồng cây đước, đến khi đón những đoàn khách đầu tiên tới học tập, ông Điệp đều âm thầm góp sức. Hạt muối, với ông không chỉ là sản phẩm, mà là một thực thể sống: phải chăm chút từ nước, nền đất đến không khí. Làm du lịch cộng đồng, hướng dẫn học sinh hiểu về rừng, về muối, về sinh thái - ông nói, đó là “việc gây dựng nền tảng tương lai”.

Không chỉ người dân, mà cả những nhà nghiên cứu, những người lặng lẽ đồng hành cùng cộng đồng cũng dành trọn tâm huyết cho vùng đất muối. Trong số ấy, có Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh - nhà sinh thái học từng gắn với thành công của Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm và nhiều làng nghề truyền thống như Nam Ô, Sa Huỳnh…

Với ông, nếu không giữ được hạt muối nguyên bản, thì bản sắc của mắm - cũng sẽ nhạt phai. “Hạt muối không chỉ là sản phẩm, mà là kết tinh của đất, nước, nắng, gió và cả ký ức cộng đồng”, ông chia sẻ trong một buổi học ngoài đồng muối Sa Huỳnh. “Ở đó có sự thích nghi của con người với thiên nhiên, có tri thức chắt lọc qua bao đời. Khi học sinh được tự tay làm muối, nghe kể chuyện nghề, nếm vị mặn mà thanh ấy, là khi các em tiếp nhận tri thức văn hóa bằng cả giác quan và trái tim”.

Tiến sĩ Trinh, ông Điệp, bà Tân hay diêm dân ấp Thiềng Liềng… đều hiểu, giữ hạt muối hôm nay, là giữ lại cả một hệ sinh thái của ký ức và tương lai. Và cứ thế, từ những hạt mặn trắng tinh, một tương lai bền vững đang được ươm mầm ■

Hạt muối xứng đáng được nhìn nhận như một di sản sống, không chỉ để lưu giữ, mà để khởi sinh những mô hình du lịch học tập bền vững. Hạt muối giúp con người kết nối trở lại với đất, với nghề, với chính căn cội của mình.

Có thể bạn quan tâm

Những “bà thím” vốn tự ti nay đã tự tin giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm làm du lịch. Ảnh: Hợp tác xã du lịch cộng đồng Gò Cỏ

Lời của đá

Là vùng lõi của Văn hóa Sa Huỳnh - một trong ba nền văn minh cổ lớn của nước ta với niên đại hơn 2.500 năm - làng di sản Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) mang một bí mật không được viết thành chữ,...

Hai kiện tướng Phạm Quang Thành (trái) và Đinh Đức Huy chia sẻ về nghề lái tàu. Ảnh: Diên Khánh

Tinh thần thép của tài xế hỏa xa

Người lái tàu được giao sứ mệnh là những người “cầm cương”, giúp cho mỗi hành trình dù gần hay xa được an toàn. Ngoài kinh nghiệm, sự tinh nhạy, họ phải có tinh thần thép để đối mặt với nhiều tình huống khẩn cấp.

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Tổng Tư lệnh, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Bộ đội Trường Sơn. Ði bên cạnh là Tư lệnh Ðồng Sỹ Nguyên. (Ảnh tư liệu).

Lời thừa nhận từ đối phương

Kho lưu trữ tại Đại học Texas Tech chứa hàng triệu trang tài liệu giải mật về Đường Trường Sơn, trong đó phía Mỹ thừa nhận đây là “kỳ tích hậu cần” và “một trong những thành tựu vĩ đại nhất của kỹ thuật quân sự thế kỷ 20”, bất khả chiến bại trước sức mạnh công nghệ hiện đại của họ.

Ông Vũ Kim Điều, chiến sĩ Điện Biên kể về trận đánh mở màn vào “cánh cửa thép Him Lam” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nén tâm hương dưới trời Tây Bắc

Cách trung tâm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 2,5 km về phía Đông Bắc, chính là nơi ghi dấu trận đánh mở màn của bộ đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh - nơi lưu dấu người đi mở cõi. (Ảnh: HÀ ANH CHIẾN)

Thành phố phía đông

Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, trong chương trình làm việc, Quốc hội cho ý kiến để tỉnh Đồng Nai trở thành thành phố Đồng Nai. Đây là một cột mốc rất quan trọng, đáng nhớ của đất và người Đồng Nai khi hội đủ các yếu tố trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Các cựu tù trong một lần ra thăm Côn Đảo.

“Địa ngục trần gian” và vùng ký ức bi tráng

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.

Anh Duyệt chia sẻ về hành trình sưu tầm những vỏ bom lớn.

Kể chuyện hòa bình bằng kỷ vật chiến tranh

Rất nhiều người đã lặng lẽ, dày công sưu tầm các hiện vật gắn với thời “mưa bom bão đạn”. Đó không chỉ là cách gìn giữ ký ức về tinh thần của cha ông ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, mà còn hướng đến giáo dục thế hệ hôm nay biết trân trọng giá trị của hòa bình.

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Bắc trao đổi quà lưu niệm với sinh viên Việt Nam.

Hào khí thanh xuân trên dặm dài Hành trình đỏ

“Sui, sui, sui sui sui, suiii”… Cho tới thời điểm bước lên máy bay rời khỏi Côn Minh (Trung Quốc), trong đầu tôi vẫn âm vang tiếng hô của đoàn sinh viên Việt Nam, hòa cùng những người bạn dân tộc Di. Hào sảng, gắn kết và tràn ngập tiếng cười.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Người dân thực hiện thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Lâm Viên - Đà Lạt.

Tết năm nay sẽ lưu vào ký ức

Lễ hội hoa Mai anh đào Đà Lạt vào dịp cuối năm nay có thêm nhiều cư dân mới của tỉnh Lâm Đồng cùng gia đình dạo phố, chụp ảnh lưu dấu lần đầu với loài thảo mộc đặc trưng phố núi.

Đoàn tàu giữa không gian hùng vĩ, nên thơ của "thiên hạ đệ nhất hùng quan" Hải Vân. (Ảnh Trần Ngọc Tiến, Xí nghiệp Đầu máy Sài Gòn)

Trên hành trình hạnh phúc

Một hành khách đứng lặng trên sân ga, dõi theo đoàn tàu vừa lăn bánh. Trên thân tàu, sắc đỏ và vàng của cờ Tổ quốc nổi bật, hòa cùng sắc xanh rừng núi mây trời với những họa tiết cách điệu thanh nhã và logo Báo Nhân Dân nổi bật chạy dài theo từng toa.

GS Hồ Ngọc Đại và nhà giáo Nguyễn Trung Chính (bên phải) - hai người thầy tóc bạc vẫn hết lòng hướng về trẻ thơ.

Những người thầy tóc bạc

Mới đây, Nhân Dân cuối tuần nhận được một lá thư dài viết tay với nét bút gọn, khẳng khái của một nhà giáo ở thành phố Hải Phòng.

Chương trình văn nghệ Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh tại Quảng trường Ba Đình sáng 2/9/2025.

Vinh quang mãi mãi thuộc về Nhân dân!

Đó là câu cuối trong bài diễn văn súc tích, ý nghĩa của Tổng Bí thư Tô Lâm trên Quảng trường Ba Đình lịch sử tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vừa qua. Cũng tại nơi đây, lời Quốc ca vang lên cùng những hình ảnh cờ hoa, những gương mặt ngời lên rạng rỡ của vạn người sẽ mãi mãi ghi vào tâm khảm nhân dân.

Nhà báo Hồng Châu, tức Thép Mới (bên phải) và nhà báo Cao Kim, tức Kim Toàn - hai nhà báo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từng bí mật hoạt động báo chí tại Sài Gòn - Gia Định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.

Nhà báo Kim Toàn - Người truyền cảm hứng

Câu chuyện bắt đầu từ giữa năm 2024, khi Bảo tàng Báo chí Việt Nam “nhận lệnh” của lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam, chính thức khởi động việc xây dựng kế hoạch hoạt động cho năm 2025 - một năm đặc biệt vì có rất nhiều ngày lễ lớn trọng đại của đất nước.

Cổng đình Phú Gia.

Làng Chăm nghìn tuổi giữa đất Hà thành

Chuyện mà tôi đang kể là về vùng đất Phú Gia, một ngôi làng đặc biệt. Làng nằm cách trung tâm Hà Nội hơn mười cây số về phía tây bắc. Phú Gia xưa tên Nôm là làng Gạ, tục gọi làng Già rồi Bà Già hương; đến thời Minh Mạng là tổng Phú Gia, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, trấn Sơn Tây.

Trung tâm huyện Đạ Huoai, nơi có nhiều người dân Huế lập cư.

Một vùng quê Huế trên đất nam Tây Nguyên

Trong rất nhiều chương trình di dân sau ngày thống nhất đất nước, có câu chuyện về một vùng quê mới của người xứ Huế, được lập ra từ gần nửa thế kỷ trước. Vùng quê ấy xưa gọi là khu kinh tế mới Hương Lâm, nay thuộc xã Đạ Lây, huyện Đạ Huoai-vùng đất phía nam Lâm Đồng…

Hai cán bộ của Ban Binh vận đặc khu Sài Gòn- Gia Định: Ông Lê Quang Đức (người ngồi) và ông Cao Đức Trường (người đứng).

Kỳ 2: Những con đường “không giống ai” của tình yêu đất nước

Khác với hầu hết các lực lượng cách mạng cùng tham gia chiến đấu giành lại hoà bình, độc lập cho dân tộc, những cán bộ làm công tác binh vận phải nhận về mình rất nhiều nguy hiểm, thiệt thòi, khi luôn phải sống “hai mặt”, che giấu thân phận thật sự của mình, trong khi tìm mọi cách để cảm hoá, vận động các đối tượng binh sĩ ngụy quyền trở về với chính nghĩa, với dân tộc…
Sau khi ném bom dinh Độc Lập, phi công Nguyễn Thành Trung đã lái máy bay F5E hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Ảnh tư liệu

Mặt trận “không đánh mà thắng"

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Đánh mà thắng địch là giỏi, không đánh mà thắng càng giỏi hơn. Không đánh mà thắng là nhờ địch vận. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, truyền thống "tâm công" (đánh vào lòng người) của các bậc tiền nhân đã được Đảng Lao động Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới và được quân và dân ta sử dụng như một thứ vũ khí sắc bén để tạo nên sức mạnh tổng hợp, áp đảo, đập tan mọi sự kháng cự của kẻ địch.

Cựu chiến binh Nguyễn Đình Quốc kể về những năm tháng gian lao nhưng vô cùng anh dũng. Ảnh: LƯU XA

Những người kể chuyện hòa bình

Không chỉ kiên cường trong chiến đấu, nhóm cựu chiến binh bị địch bắt tù đày, trở về đời thường vẫn mang tinh thần bất khuất của người lính, không ngại gian khó. Các ông dày công xây dựng Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, biến nơi đây thành “địa chỉ đỏ” tri ân các đồng đội đã ngã xuống, đồng thời lan tỏa lòng yêu nước và giá trị của hòa bình cho các thế hệ sau.
Lớp học mầm non ở buôn Ka Ming. (Ảnh: Uông Thái Biểu)

Đất giàu, đất học Ka Ming

Ngày trước buôn Ka Ming thuộc xã Gung Ré, nay là một trong những khu phố của thị trấn Di Linh (huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng). Với 100% dân số là đồng bào dân tộc Cơ Ho thuộc nhánh Srê, buôn làng này thật sự là một vùng đất lành, đất giàu và đặc biệt là đất học nổi tiếng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
Các chiến sĩ lữ đoàn 162 gói bánh chưng chuẩn bị đón Tết.

Đón xuân trên chiến hạm

Đón giao thừa trên chiến hạm không rượu, bia thuốc lá, hồi còi tàu thay cho pháo, nhưng lại có những điều đặc biệt khác mà ít người có thể hình dung ra được…
Làng Nubian trên đảo Elephantine.

Ngôi làng cổ huyền bí giữa dòng sông Nile

Nằm ở phía nam Ai Cập, cách thủ đô Cairo khoảng 800 km, thành phố Aswan bên bờ sông Nile là cửa ngõ của Ai Cập xuống phía nam châu Phi. Đây là nơi sinh sống của người Nubian, một nhóm bộ tộc di cư, đến từ miền bắc Sudan. Điều đó giải thích tại sao họ có tông màu da sẫm hơn người Ai Cập.
Ông Quang Văn Thu (thứ bảy, từ trái sang) và người dân phối hợp tuần tra đường biên, cột mốc cùng chiến sĩ Đồn Biên phòng Thông Thụ (huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An). Ảnh: NGUYỄN ĐẠO

"Cột mốc sống" nơi biên cương xanh thẳm

Nước ta có 4.510 km đường biên giới đất liền trải dài từ bắc tới nam. Chủ quyền quốc gia được xác lập, gìn giữ từ những cột mốc đánh dấu tọa độ và từ chính những bước chân lặng thầm bền bỉ không kể ngày - đêm, mưa - nắng của những người lính biên phòng cùng hàng hàng lớp lớp người dân tình nguyện trở thành những "cột mốc sống".
Đoàn thực hiện nghi lễ chào cờ tại đảo Cồn Cỏ. Nguồn: ĐI ĐỂ HIỂU

Hành trình của lòng tự hào và biết ơn

Bùi Thiên Phú, cậu bé 10 tuổi ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh vừa có chuyến đi đầu tiên cùng ông ngoại về miền đất lửa Quảng Trị, nơi hơn 50 năm trước ông của cậu từng chiến đấu. Đứng trên cầu Bến Tắt bắc qua vĩ tuyến 17 lịch sử - nơi từng là ranh giới tạm thời chia cắt đất nước, Phú nhìn theo hướng tay ông ngoại chỉ và nghe ông kể: "Ngày ấy, đơn vị ông đóng quân ngay phía bên trái cầu, làm nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt"...