Tình người làng muối

Dọc ven biển, nơi nước gặp đất, sóng gặp phù sa, hàng vạn diêm dân vẫn lặng lẽ chắt chiu từng chút nước, lấy cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà hóa thành hạt mặn cho đời. Không đơn thuần là một nghề, với họ muối là sự tiếp nối, là tình yêu và cách tri ân vùng đất đã nuôi dưỡng gia đình qua bao thế hệ.

Du khách tham gia chương trình du lịch học tập trên đồng muối Sa Huỳnh.
Du khách tham gia chương trình du lịch học tập trên đồng muối Sa Huỳnh.

Muối đã là lẽ sống!

Người dân ấp đảo Thiềng Liềng (xã đảo Thạnh An, Thành phố Hồ Chí Minh) vẫn gọi cậu bé Nguyễn Quốc Khánh là “diêm dân trẻ nhất”. Bảy tuổi, Khánh thành thạo các công đoạn thu hoạch muối. Khánh cũng là thế hệ thứ năm trong đại gia đình diêm dân. Khi tôi hỏi nhà ông Năm Đổi (Nguyễn Văn Đổi), Năm Lâm (Nguyễn Ngọc Lâm)…, chị Út Lượm (Nguyễn Thị Ngọc Sương) - mẹ Khánh cười hiền: “Đó đều là các ông cậu. Xưa ông cố tôi mần muối bên Gò Công (tỉnh Tiền Giang cũ, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), rồi bốn người con của cố đưa con cái tới Thiềng Liềng khai hoang, mần muối tới nay”.

Cuối ấp, nhà ông Năm Đổi hướng ra đồng muối lộng gió. Nhắc đến những ngày hạt muối theo chân gia đình đến xứ này, ông Năm Đổi cho biết: “Hồi năm 1974, mấy anh em của ba tôi dắt theo con cái tới đây. Ngày đó giống như đi làm kinh tế mới vậy. Cha con, anh em, chú cháu chặt đước, chặt dừa khai hoang lấy đất dựng nhà lá, lấy ruộng mần muối. Gia đình tôi chỉ có chú Út ở lại Gò Công để chăm má”. Bà Năm Đức (vợ ông) nhớ: “Trước khi tôi lấy ổng đâu có biết mặt, vì ổng ở tuốt Thiềng Liềng. Tôi ở Gò Công với má chồng mấy năm rồi cũng qua đây”. Nói đoạn, bà Năm rưng rưng khi nhớ những ngày đại gia đình ông Năm nhờ hạt muối mà có tiền gửi về Gò Công xây cất nhà cửa, mua xe máy cho chú Út. Và cũng nhờ hạt muối mà ba trong sáu đứa con của ông bà được ăn học trong thành phố rồi lập nghiệp tại đây.

Ông Năm ít nói, cả ngày lụi cụi ngoài đồng muối - kể cả mùa mưa ruộng để trống trơn. Dường như với ông, ruộng muối không khác một thành viên trong gia đình. Sản lượng muối cha con ông thu hoạch được luôn cao nhất nhì Thiềng Liềng. Ông cười hiền: “Tôi là chi hội trưởng chi hội nông dân nên phải làm gương cho bà con chớ. Nhờ nghề muối mà gia đình tôi mới được như hôm nay. Nhờ hạt muối mà tôi thành nông dân giỏi của thành phố, được đi khắp nơi học hỏi kinh nghiệm sản xuất. Nghề muối cũng đang nuôi sống hai vợ chồng và gia đình của ba đứa con trai, thì mình phải biết ơn chớ”.

Ở xã Trí Hải, tỉnh Khánh Hòa (tỉnh Ninh Thuận cũ), bà Trần Thị Tân là tỷ phú diêm dân. Bà mua hai suất đất, dựng nhà lầu đều từ hạt muối. Bà không lớn lên cùng diêm nghiệp mà tham gia thanh niên xung phong rồi được nhà nước cử đi học Trường trung học Kỹ thuật Muối (nay là Trường cao đẳng Kinh tế và Công nghệ thực phẩm, đóng tại Hải Phòng). Khi thành lập các diêm trường ở khu vực Nam Trung Bộ, bà Tân cùng khóa 10 của trường đã học thêm sáu tháng - tại chính những vùng đất mở diêm trường - trước khi bắt tay vào thiết kế, xây dựng các cánh đồng muối rộng lớn như Đầm Vua, Vĩnh Hảo…

Hơn cả một nghề nghiệp, muối với bà là lẽ sống. Bà đã rời vị trí quản lý để trở thành một diêm dân thực thụ. Bởi bà nhận thấy sự lãng phí tài nguyên, sự thiếu hụt tri thức đang hạn chế hạt muối quên hương được vương xa. Người làm nghề tâm huyết là thế, nhưng cái khó cũng vấn bủa vây. Ngẫm ngợi và hành động, bà muốn tự tay làm ra những hạt muối đạt chuẩn, đúng quy trình khoa học. Bà nhớ: “Thời tôi làm kỹ thuật, mưa 50 mm vẫn thu hoạch muối như bình thường. Hễ trời mưa, là tất cả cán bộ kỹ thuật phải lao ra đồng muối, bất kể nửa đêm, rạng sáng để tháo nước ngọt ra khỏi ruộng muối thật nhanh. Vì chỉ cần tăng độ mặn lên 0.1 là đã tăng được 5% sản lượng”. Một đời gắn với muối mặn, bà luôn đau đáu với việc làm sao để diêm dân của cả vùng cùng phát triển, rồi kéo lớp trẻ trở về, bám đất, bám nghề. Bốn người con của bà Tân, thêm ba con dâu, rể - dù học đại học hay đã là viên chức huyện, bà cũng kéo về. Bốn người trực tiếp sản xuất cùng mẹ, hai người phụ trách giao vận, con gái út nhận quảng bá, giới thiệu sản phẩm muối đa dạng lên các sàn thương mại điện tử…

gen-h-z7375825121639-68f7e95fe3717548106d207482a6020d.jpg
Nguyễn Quốc Khánh, bảy tuổi, diêm dân nhí của ấp đảo Thiềng Liềng.

Điểm tựa sinh thái Thiềng Liềng...

Đồng muối Thiềng Liềng hôm nay là trọng tâm của Dự án Mô hình Du lịch Cộng đồng Thiềng Liềng, do Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế và Du lịch (ITERD) và các hộ dân trong ấp triển khai từ năm 2022. Thiềng Liềng đã được du khách bình chọn là một trong 10 điểm đến thú vị của thành phố. Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết từ Đồng Nai về làm vợ ông Năm Lâm. Tình yêu, sự gắn bó với nghề muối của gia đình nhà chồng đã ngấm sang bà. Vừa đứng đầu Hợp tác xã Du lịch Cộng đồng Thiềng Liềng - điều phối hoạt động đón, dẫn khách đến các hộ thành viên, bà Tuyết vừa mày mò chế biến để hạt muối xứng tầm góp mặt vào sản phẩm du lịch của ấp.

Ở Thiềng Liềng, diêm dân không chỉ thu hoạch từng “hạt ngọc trời” mà còn vun bồi đất ruộng, dòng nước, hàng cây. Bà Tuyết vẫn nhớ buổi họp dân đầu tiên của dự án du lịch học tập: “Mình không làm du lịch kiểu xô bồ. Phải giữ được chất đất và người Thiềng Liềng. Nói với khách về hạt muối, là phải nói được cả về rừng đước, về cách dân mình giữ đất, giữ nước như giữ một phần máu thịt”. Từ đó, mỗi hộ tham gia hợp tác xã đều đồng thuận: giữ nền ruộng hoàn toàn tự nhiên, không xả nước thải xuống rạch, dọn rác định kỳ, giữ sạch bờ ruộng… Bà Tuyết nói: “Không có môi trường tốt thì muối dễ hư, nước dễ bẩn. Nhưng làm sạch không chỉ vì muối. Mình còn muốn giữ được cá, cua, ba khía - thứ hồi nhỏ đi ra đồng một buổi là có cả rổ mang về. Giờ tụi nó đã trở lại”.

Ở Sa Huỳnh, hạt muối cũng gắn với hành trình đi rồi trở về của những người từng nghĩ phải rời quê mới “nên người”. Ông Ngô Điệp - diêm dân giỏi nhất vùng - từng đưa ba con vào thành phố học hành, làm việc, nhưng rồi lại lặng lẽ trở về và nhận ra: Để “nên người”, đôi khi phải biết về với cội nguồn. Trở lại đồng muối quê nhà, ông Điệp không chỉ là người làm nghề, mà còn là một trong những hạt nhân lan tỏa tinh thần sinh thái, bền vững, cộng đồng tại Sa Huỳnh. Gặp cô cử nhân Luật Phạm Hồng Thắm, người rời phố về quê lập nghiệp - vực dậy nghề muối quê hương, cũng là người sáng lập thương hiệu muối Sahu - ông Điệp dần được truyền cảm hứng, rồi toàn tâm theo đuổi hướng làm muối sạch, thủ công gắn với bảo tồn môi trường. Từ những ngày đầu cùng nhau dọn rác ngoài đầm, trồng cây đước, đến khi đón những đoàn khách đầu tiên tới học tập, ông Điệp đều âm thầm góp sức. Hạt muối, với ông không chỉ là sản phẩm, mà là một thực thể sống: phải chăm chút từ nước, nền đất đến không khí. Làm du lịch cộng đồng, hướng dẫn học sinh hiểu về rừng, về muối, về sinh thái - ông nói, đó là “việc gây dựng nền tảng tương lai”.

Không chỉ người dân, mà cả những nhà nghiên cứu, những người lặng lẽ đồng hành cùng cộng đồng cũng dành trọn tâm huyết cho vùng đất muối. Trong số ấy, có Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh - nhà sinh thái học từng gắn với thành công của Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm và nhiều làng nghề truyền thống như Nam Ô, Sa Huỳnh…

Với ông, nếu không giữ được hạt muối nguyên bản, thì bản sắc của mắm - cũng sẽ nhạt phai. “Hạt muối không chỉ là sản phẩm, mà là kết tinh của đất, nước, nắng, gió và cả ký ức cộng đồng”, ông chia sẻ trong một buổi học ngoài đồng muối Sa Huỳnh. “Ở đó có sự thích nghi của con người với thiên nhiên, có tri thức chắt lọc qua bao đời. Khi học sinh được tự tay làm muối, nghe kể chuyện nghề, nếm vị mặn mà thanh ấy, là khi các em tiếp nhận tri thức văn hóa bằng cả giác quan và trái tim”.

Tiến sĩ Trinh, ông Điệp, bà Tân hay diêm dân ấp Thiềng Liềng… đều hiểu, giữ hạt muối hôm nay, là giữ lại cả một hệ sinh thái của ký ức và tương lai. Và cứ thế, từ những hạt mặn trắng tinh, một tương lai bền vững đang được ươm mầm ■

Hạt muối xứng đáng được nhìn nhận như một di sản sống, không chỉ để lưu giữ, mà để khởi sinh những mô hình du lịch học tập bền vững. Hạt muối giúp con người kết nối trở lại với đất, với nghề, với chính căn cội của mình.

Có thể bạn quan tâm

GS Hồ Ngọc Đại và nhà giáo Nguyễn Trung Chính (bên phải) - hai người thầy tóc bạc vẫn hết lòng hướng về trẻ thơ.

Những người thầy tóc bạc

Mới đây, Nhân Dân cuối tuần nhận được một lá thư dài viết tay với nét bút gọn, khẳng khái của một nhà giáo ở thành phố Hải Phòng.

Chương trình văn nghệ Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh tại Quảng trường Ba Đình sáng 2/9/2025.

Vinh quang mãi mãi thuộc về Nhân dân!

Đó là câu cuối trong bài diễn văn súc tích, ý nghĩa của Tổng Bí thư Tô Lâm trên Quảng trường Ba Đình lịch sử tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vừa qua. Cũng tại nơi đây, lời Quốc ca vang lên cùng những hình ảnh cờ hoa, những gương mặt ngời lên rạng rỡ của vạn người sẽ mãi mãi ghi vào tâm khảm nhân dân.

Nhà báo Hồng Châu, tức Thép Mới (bên phải) và nhà báo Cao Kim, tức Kim Toàn - hai nhà báo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từng bí mật hoạt động báo chí tại Sài Gòn - Gia Định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.

Nhà báo Kim Toàn - Người truyền cảm hứng

Câu chuyện bắt đầu từ giữa năm 2024, khi Bảo tàng Báo chí Việt Nam “nhận lệnh” của lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam, chính thức khởi động việc xây dựng kế hoạch hoạt động cho năm 2025 - một năm đặc biệt vì có rất nhiều ngày lễ lớn trọng đại của đất nước.

Cổng đình Phú Gia.

Làng Chăm nghìn tuổi giữa đất Hà thành

Chuyện mà tôi đang kể là về vùng đất Phú Gia, một ngôi làng đặc biệt. Làng nằm cách trung tâm Hà Nội hơn mười cây số về phía tây bắc. Phú Gia xưa tên Nôm là làng Gạ, tục gọi làng Già rồi Bà Già hương; đến thời Minh Mạng là tổng Phú Gia, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, trấn Sơn Tây.

Trung tâm huyện Đạ Huoai, nơi có nhiều người dân Huế lập cư.

Một vùng quê Huế trên đất nam Tây Nguyên

Trong rất nhiều chương trình di dân sau ngày thống nhất đất nước, có câu chuyện về một vùng quê mới của người xứ Huế, được lập ra từ gần nửa thế kỷ trước. Vùng quê ấy xưa gọi là khu kinh tế mới Hương Lâm, nay thuộc xã Đạ Lây, huyện Đạ Huoai-vùng đất phía nam Lâm Đồng…

Hai cán bộ của Ban Binh vận đặc khu Sài Gòn- Gia Định: Ông Lê Quang Đức (người ngồi) và ông Cao Đức Trường (người đứng).

Kỳ 2: Những con đường “không giống ai” của tình yêu đất nước

Khác với hầu hết các lực lượng cách mạng cùng tham gia chiến đấu giành lại hoà bình, độc lập cho dân tộc, những cán bộ làm công tác binh vận phải nhận về mình rất nhiều nguy hiểm, thiệt thòi, khi luôn phải sống “hai mặt”, che giấu thân phận thật sự của mình, trong khi tìm mọi cách để cảm hoá, vận động các đối tượng binh sĩ ngụy quyền trở về với chính nghĩa, với dân tộc…
Sau khi ném bom dinh Độc Lập, phi công Nguyễn Thành Trung đã lái máy bay F5E hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Ảnh tư liệu

Mặt trận “không đánh mà thắng"

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Đánh mà thắng địch là giỏi, không đánh mà thắng càng giỏi hơn. Không đánh mà thắng là nhờ địch vận. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, truyền thống "tâm công" (đánh vào lòng người) của các bậc tiền nhân đã được Đảng Lao động Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới và được quân và dân ta sử dụng như một thứ vũ khí sắc bén để tạo nên sức mạnh tổng hợp, áp đảo, đập tan mọi sự kháng cự của kẻ địch.

Cựu chiến binh Nguyễn Đình Quốc kể về những năm tháng gian lao nhưng vô cùng anh dũng. Ảnh: LƯU XA

Những người kể chuyện hòa bình

Không chỉ kiên cường trong chiến đấu, nhóm cựu chiến binh bị địch bắt tù đày, trở về đời thường vẫn mang tinh thần bất khuất của người lính, không ngại gian khó. Các ông dày công xây dựng Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, biến nơi đây thành “địa chỉ đỏ” tri ân các đồng đội đã ngã xuống, đồng thời lan tỏa lòng yêu nước và giá trị của hòa bình cho các thế hệ sau.
Lớp học mầm non ở buôn Ka Ming. (Ảnh: Uông Thái Biểu)

Đất giàu, đất học Ka Ming

Ngày trước buôn Ka Ming thuộc xã Gung Ré, nay là một trong những khu phố của thị trấn Di Linh (huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng). Với 100% dân số là đồng bào dân tộc Cơ Ho thuộc nhánh Srê, buôn làng này thật sự là một vùng đất lành, đất giàu và đặc biệt là đất học nổi tiếng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
Các chiến sĩ lữ đoàn 162 gói bánh chưng chuẩn bị đón Tết.

Đón xuân trên chiến hạm

Đón giao thừa trên chiến hạm không rượu, bia thuốc lá, hồi còi tàu thay cho pháo, nhưng lại có những điều đặc biệt khác mà ít người có thể hình dung ra được…
Làng Nubian trên đảo Elephantine.

Ngôi làng cổ huyền bí giữa dòng sông Nile

Nằm ở phía nam Ai Cập, cách thủ đô Cairo khoảng 800 km, thành phố Aswan bên bờ sông Nile là cửa ngõ của Ai Cập xuống phía nam châu Phi. Đây là nơi sinh sống của người Nubian, một nhóm bộ tộc di cư, đến từ miền bắc Sudan. Điều đó giải thích tại sao họ có tông màu da sẫm hơn người Ai Cập.
Ông Quang Văn Thu (thứ bảy, từ trái sang) và người dân phối hợp tuần tra đường biên, cột mốc cùng chiến sĩ Đồn Biên phòng Thông Thụ (huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An). Ảnh: NGUYỄN ĐẠO

"Cột mốc sống" nơi biên cương xanh thẳm

Nước ta có 4.510 km đường biên giới đất liền trải dài từ bắc tới nam. Chủ quyền quốc gia được xác lập, gìn giữ từ những cột mốc đánh dấu tọa độ và từ chính những bước chân lặng thầm bền bỉ không kể ngày - đêm, mưa - nắng của những người lính biên phòng cùng hàng hàng lớp lớp người dân tình nguyện trở thành những "cột mốc sống".
Đoàn thực hiện nghi lễ chào cờ tại đảo Cồn Cỏ. Nguồn: ĐI ĐỂ HIỂU

Hành trình của lòng tự hào và biết ơn

Bùi Thiên Phú, cậu bé 10 tuổi ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh vừa có chuyến đi đầu tiên cùng ông ngoại về miền đất lửa Quảng Trị, nơi hơn 50 năm trước ông của cậu từng chiến đấu. Đứng trên cầu Bến Tắt bắc qua vĩ tuyến 17 lịch sử - nơi từng là ranh giới tạm thời chia cắt đất nước, Phú nhìn theo hướng tay ông ngoại chỉ và nghe ông kể: "Ngày ấy, đơn vị ông đóng quân ngay phía bên trái cầu, làm nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt"...
Thị trấn Thanh Chương hôm nay. Ảnh: Lê Anh Dũng

Thanh Chương - Miền văn hùng võ lược

Nếu kể đến một vùng quê địa linh nhân kiệt, kiên cường cách mạng và hiếu học, không thể không nói đến Xứ Nghệ. Nói đến Xứ Nghệ, có lẽ không thể không nói đến Thanh Chương.
Nạo vét, khơi thông dòng chảy sông Lừ (Hà Nội). Ảnh: HẢI MIÊN

Kỳ 2: "Cắt ngọn" hay "cải tạo gốc"?

Mặc dù số liệu ghi nhận các trường hợp xả thải sai quy định bị phát hiện, mức độ xử phạt vi phạm ngày càng tăng trong những năm gần đây, nhưng tình trạng ô nhiễm các dòng sông vẫn không được cải thiện đáng kể. Cùng với nỗ lực xử lý "phần ngọn", đã có những mô hình cải tạo "từ gốc" được triển khai.
Không gian hồ sinh thái Na Hang mang một mầu xanh huyền bí.

Vùng thẫm xanh tuyệt sắc

Đặt chân đến bến tàu lòng hồ sinh thái Na Hang (Tuyên Quang), choán ngợp trong tôi là cảm giác yên bình giữa một vùng trong xanh, thấm đến cả năm giác quan. Nơi đây, mỗi người được thảnh thơi thả mình theo tiếng sóng nước, tiếng gió vi vu quyện hòa những âm thanh kỳ diệu của thiên nhiên. Người Na Hang, Lâm Bình đã dựa vào những vẻ đẹp thiên nhiên ban tặng để làm du lịch, gìn giữ văn hóa và từng bước nâng cao đời sống tinh thần của mình.
Lễ đài Ba Đình đầu tiên bằng gỗ ván do KTS Nguyễn Văn Ninh thiết kế. Nguồn: Gia đình Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh cung cấp.

Kỳ 2: “BÁC Ở THẾ NÀY LÀ QUÁ SANG TRỌNG” (Tiếp theo và hết)

Được sống những khoảnh khắc bên vị lãnh tụ kính yêu của toàn dân tộc, được thiết kế, xây dựng nơi ở và làm việc của Bác là những khoảnh khắc vàng của người kiến trúc sư mà không phải ai cũng vinh dự có được. Nhân cách và trí tuệ vĩ đại, lòng độ lượng, bao dung, nhân hậu, khiêm tốn và giản dị của Người mãi mãi tỏa sáng trong tâm hồn của Nguyễn Văn Ninh; luôn thức dậy trong lòng vị kiến trúc sư niềm khao khát sáng tạo và cống hiến cho dân, cho nước…

Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm cùng nhóm thiết kế và thi công nhà sàn của Người. Nguồn: Gia đình cung cấp

Kỳ 1: "Chú lo cho bác một ngôi nhà sàn truyền thống…"

Người Việt Nam nào cũng từng lưu vào trái tim mình hình ảnh ngôi Nhà sàn trong Khu Di tích quốc gia đặc biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Ngôi nhà sàn-nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và làm việc trong hơn một thập niên cho đến ngày Người mãi mãi về cõi vĩnh hằng đã trở thành một trong những biểu tượng thể hiện cốt cách thanh tao, cao quý của vị Cha già dân tộc. Người thiết kế và chỉ huy thi công nhà sàn là kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh, nhân vật trong câu chuyện mà tôi đang kể…
Bia di tích Trạm hậu cần hỏa tuyến Nà Tấu, sau hai lần chuyển địa điểm.

Tìm lại dấu tích con đường huyền thoại (★)

Nhiều tài liệu viết về Điện Biên Phủ của tác giả nước ngoài đều khẳng định rằng: Công tác bảo đảm hậu cần là một mặt trận hết sức nóng bỏng và quyết liệt với cả hai bên, bởi nó là cầu nối giữa hậu phương với tiền tuyến.
Lắng nghe những hồi ức của cụ Trần Xuất Chúng.

Tìm lại dấu tích con đường huyền thoại

Tròn 70 năm trước, một con đường tiếp vận chiến lược với những điều kiện "không tưởng" đã được những bộ óc thiên tài quân sự của quân đội ta vạch ra, huy động nguồn lực từ nhân dân để làm nên một chiến dịch hậu cần "không thể thực hiện được" như đánh giá của các chiến lược gia của quân đội viễn chinh Pháp. Con đường tiếp vận chiến lược đó đã tạo nên điều kiện quan trọng nhất, cũng là sự bất ngờ lớn nhất, để bộ đội ta có thể chiến đấu và chiến thắng trên chiến trường lịch sử Điện Biên Phủ. Trong những ngày tháng 4 lịch sử này, khi thực hiện hành trình tìm lại những dấu tích của con đường huyền thoại năm xưa, chúng tôi được hiểu rõ hơn về một thời những người dân Việt Nam hào hùng ra trận, hiểu rõ hơn vì sao chúng ta chiến đấu và chiến thắng...
Mốc số 0 cực tây là điểm đến thu hút khách du lịch.

Những người lính viết tiếp huyền thoại nơi cực tây Tổ quốc

Chuyến trở lại Tây Bắc tuần trước, tình cờ tôi gặp lại hai sĩ quan ở Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên, cả hai anh đều từng là Đồn trưởng Đồn Biên phòng A Pa Chải- đồn xa nhất ở cực tây Việt Nam, Đại tá Nguyễn Đức Thắng nay là Trưởng phòng Trinh sát và Trung tá Đặng Tuấn, nay là Chánh Văn phòng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh. Gần hai mươi năm gắn bó với Tây Bắc, đã đi rất nhiều nơi, gặp gỡ và thân thiết với nhiều bạn bè lính biên, nhưng không hiểu sao cực tây Việt Nam luôn thao thức trong tôi như một nơi chốn "thuộc về".
Với sự cần cù, người dân đã khiến đá trổ xanh. Ảnh: Giang Toan

Khúc tráng ca xứ đá

Đã nhiều lần đến "xứ đá" Hà Giang, song mỗi lần trở lại trong tôi luôn ngập đầy cảm xúc và sự nể phục sức sống mãnh liệt của người dân trước thiên nhiên khắc nghiệt. Nơi đây, đá giăng tứ bề, đá thành rừng thử thách bước chân con người. Cuộc sống vất vả đủ đường nhưng người dân vẫn vươn lên, bám bản, khiến đá nở hoa.
Tác giả bên Bia tưởng niệm Di tích cuộc võ trang vượt ngục ngày 12/12/1952.

Kỳ IV: Ngút trời linh khí (Tiếp theo và hết)

Nơi này là vùng đất thiêng. Mỗi hòn đá cành cây, mỗi đợt sóng dâng trào biển khơi hay sẫm mầu núi biếc Côn Đảo đều có thể kể một câu chuyện về những thời, những người đã qua. Từng tấc đất trên đảo nhỏ giữa trùng khơi đều lưu những dấu tích của lòng uất hận và ý chí ngoan cường của những người Việt vì đại nghĩa Tổ quốc mà có thể hiến dâng cả thân xác vô cùng quý giá của mình.
Nhà Công quán Côn Đảo, nơi nhà soạn nhạc Charles Camille Saint Saens viết chương cuối của vở nhạc kịch "Hoàng hậu Fredegonde".

Kỳ III: Âm nhạc và ngục tù

"Hoàng hậu Fredegonde" là một vở nhạc kịch bất hủ của nhà soạn nhạc thiên tài người Pháp Charles Camille Saint Saens (1835-1921). Ông là một nhạc sĩ thuộc trường phái lãng mạn. Tên tuổi của ông được xếp vào những nghệ sĩ hàng đầu châu Âu theo người đương thời đánh giá và ông là Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp quốc. Vở nhạc kịch và nhà soạn nhạc của quốc gia xa xôi ấy thì có liên quan gì đến Côn Đảo, nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian" giữa trùng khơi Việt Nam?
Chị Trang (bên phải) và chị Xiêm nỗ lực làm tranh cuốn giấy, vừa để kiếm thêm tiền trang trải chi phí, vừa để quên đi phần nào bệnh tật.

Thổi âm thầm những cơn gió mát

Mùa nắng nóng, có lúc cả bầu trời như cái chảo lửa khổng lồ khiến ngay cả những tán cây cũng teo tóp. Thế nhưng vì mưu sinh, không ít người lao động nghèo vẫn phải oằn mình ngoài đường phố Hà Nội, nhiều bệnh nhân chạy thận trú mình trong những căn phòng trọ vài mét vuông. Trong gian khó vẫn luôn có những bàn tay thiện nguyện trao yêu thương, cách con người đối đãi với nhau như cơn gió mát lành tiếp sức cho mỗi phận người.
Du khách tham quan Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ tại Mường Phăng.

Về Mường Phăng nhớ ghé Che Căn

Cái tên Mường Phăng, tỉnh Điện Biên đã đi vào lịch sử và suy nghĩ của nhiều người khi địa danh này là nơi đặt Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Vậy nhưng, nếu đến Mường Phăng thì sẽ biết đến Che Căn. Hiện nay, Mường Phăng nỗ lực biến Che Căn trở thành địa điểm du lịch trọng điểm với lợi thế riêng có là Khu di tích Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ và cảnh quan thiên nhiên độc đáo tại nơi này…
Bé Kiều Oanh và bạn xem phim hoạt hình tại phòng trọ.

Mang yêu thương nâng đỡ yêu thương

Một căn nhà trọ đặc biệt vừa khánh thành tại chợ Tân Phú, phường Tân Phú, thành phố Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh). "Đặc biệt" vì đây là "nhà trọ 0 đồng" dành cho các em nhỏ không may mắc phải căn bệnh hiểm nghèo.
Nghệ nhân K’Trời dạy các cháu học sinh chơi cồng chiêng.

Từ những cuộc trao truyền nhạc cụ dân tộc Mạ

Đồng bào dân tộc Mạ có hệ thống các loại nhạc cụ hết sức độc đáo, bao gồm bộ gõ, bộ dây và bộ hơi; trong đó có một số nhạc cụ chính như: đàn đá, cồng, chiêng, trống, khèn bầu sáu ống, sáo bầu ba lỗ, kèn môi, khèn sừng trâu, đàn ống tre… Ngoài ra, còn có một số nhạc cụ khác được chế tác từ chất liệu thiên nhiên theo sự sáng tạo ngẫu hứng của một số nghệ nhân.