Thế giới cổ tích từ giấy dó

Một tâm hồn nghệ sĩ, một bàn tay khéo léo như nghệ nhân, những câu chuyện bất tận về văn hóa truyền thống và luôn khiêm tốn nhận mình là một thợ thủ công.

Đoàn Thái Cúc Hương.
Đoàn Thái Cúc Hương.

Đoàn Thái Cúc Hương mong muốn mang thế giới tuổi thơ đẹp như cổ tích của cô và văn hóa truyền thống quý giá của Việt Nam đến với công chúng qua những tác phẩm giấy dó kỳ công và tinh tế do cô sáng tạo.

5-2.jpg
Các sản phẩm từ giấy dó của Đoàn Thái Cúc Hương.

Cảm hứng trên giấy

Bén duyên với giấy dó qua một workshop đăng ký cho vui trong thời kỳ dịch Covid-19 và rồi trót mê đến mức không dứt ra được, cô giáo tiếng Anh Đoàn Thái Cúc Hương đã rẽ ngang trở thành một thợ thủ công. Cô đã khéo léo kết hợp giữa giấy dó, giấy dướng với mầu đất, với nan tre… đầy sắc màu truyền thống để làm nên những sản phẩm có sự hiện diện cao trong đời sống hiện đại như quạt, chao đèn, bưu thiếp, bao lì xì, lịch Tết, đèn trung thu… Những sản phẩm của Đoàn Thái Cúc Hương có một sức hấp dẫn riêng, với dấu ấn thủ công đậm nét, qua những bức tranh vẽ trên quạt, trên chao đèn, những mầu sắc làm từ đất mộc mạc và không kém phần rực rỡ… được ứng dụng trong trang trí nội thất, chụp ảnh và cả những dịp thật đặc biệt như lễ, Tết, đám cưới, sự kiện.

Không chỉ hướng đến tính ứng dụng cao, Cúc Hương còn muốn kể những câu chuyện riêng biệt đằng sau mỗi một sản phẩm. Lớn lên bên người cha làm nghề chạm đồ gỗ mỹ nghệ, từ nhỏ Hương đã được sống cùng những họa tiết, hoa văn truyền thống, những sản phẩm mỹ nghệ được tạo nên từ đôi bàn tay cha. Điều đó tự ngấm vào người cô một cách thật dung dị mà cũng mạnh mẽ. Các tác phẩm của Đoàn Thái Cúc Hương hầu hết đều được lấy cảm hứng từ những hình ảnh, hoa văn cổ của Việt Nam từ những bộ tứ linh, tứ quý, rồi các tích xưa như lý ngư vọng nguyệt, vinh quy bái tổ…

Ý tưởng và mong muốn rõ ràng là thế, nhưng để thể hiện được hết trên giấy dó cũng không phải dễ dàng. “Khí hậu nước ta là nhiệt đới ẩm gió mùa, do đó điều quan trọng đầu tiên là phải xử lý giấy truyền thống thật tốt, với nhiều cách khác nhau, để bảo đảm giấy không mốc, không bị chùng giấy hay rách giấy khi làm việc, sáng tạo trên đó”, Hương cho hay.

Vào mùa mưa, nồm ẩm, giấy truyền thống với chất tự nhiên rất tốt và khó mốc hơn các loại giấy khác, nhưng với yêu cầu làm sản phẩm thì giấy sẽ hơi chùng một chút và sẽ dễ rách. Đó là lúc sự tìm tòi và kinh nghiệm của người thợ trong Hương tìm ra những cách xử lý giấy nhất định, để bảo đảm chất lượng sản phẩm tới tay người dùng.

Bên cạnh chất lượng giấy, việc sử dụng mầu sắc tự nhiên cũng là một quá trình tìm tòi, thử nghiệm đáng giá của cô gái trẻ. “Mình nhận thấy rằng là chẳng có cái mầu nào mà nó đưa lên trên giấy cổ truyền có thể hợp hơn là với mầu đất, được làm từ các loại đất tự nhiên”, Hương chia sẻ. Thế nhưng mầu tự nhiên thì thường sẽ hạn chế về sắc độ, chỉ có vài tông mầu cơ bản. Để có thể tạo thành nhiều mầu sắc, sắc độ, Hương đã phải tìm tòi, rồi cùng người bạn là họa sĩ để sưu tầm, thử nghiệm các nguyên liệu rất nhiều lần. Hương kể, có những mầu ban đầu tô lên giấy nhìn cũng bắt mắt, nhưng chỉ một thời gian ngắn là bị bay mầu, chuyển về sắc xám khó coi. Rồi có khi thử nghiệm với đất, làm chưa đủ mịn nên vẫn còn độ gợn, khiến cho bức tranh trên sản phẩm không đạt được độ tinh tế, mềm mại… “Có những mầu mình phải làm nó thành cao, rồi để ngoài tự nhiên để cho hả mầu đi, như vậy mầu mới bám lâu được. Thử nghiệm dần dần như thế từng ngày, từng ngày một, có những cái loại mầu mà quá trình làm phải đến 3 - 4 tháng mới bắt đầu đưa vào sử dụng được”, cô vui vẻ kể lại hành trình gian nan nhưng lại đầy cảm xúc ấy.

Không giữ “xứ sở thần tiên” cho riêng mình

Đoàn Thái Cúc Hương tự nhận mình có một tuổi thơ tựa như “Alice ở xứ sở thần tiên”, nơi cô lớn lên thật yên bình và đẹp đẽ và Hương tâm sự rằng “không muốn giữ cho riêng bản thân thế giới đó, những ký ức đẹp đó, mà muốn lan tỏa đến tất cả mọi người thông qua các sản phẩm giấy dó”.

“Từ khi còn nhỏ, mình đã rất nhạy cảm với sự thay đổi của mùa. Khung cảnh quê mình khi đó cũng như mọi miền quê Việt Nam thôi, thật giản dị và đẹp đến rung động. Đó có thể là một con ngõ nhỏ với ngôi nhà được rào bằng hàng cây duối, hay những cánh đồng bạt ngàn hoa cải vàng khi vào đông, hoặc là một góc vườn với những cây táo mà mỗi mùa gió, lá táo sẽ bị hất tung về một phía khiến cho phía dưới đổi sang sắc mầu bàng bạc, còn những ngày mùa xuân mưa phùn thì táo ra nhiều chồi non, xanh mơn mởn… Rồi ở quê mình mọi người hay trồng dong riềng, vào những buổi chiều hè khi trời sắp mưa, dong riềng sẽ bị mưa thổi tạt về một phía… Cảnh vật cứ biến đổi thật tự nhiên mà cũng tinh tế theo ngày, theo thời tiết, theo mùa như thế, khiến một đứa trẻ như mình đã biết rung rinh trong lòng và nhớ đến tận bây giờ”. Những kỷ niệm bằng hình ảnh về thế giới cổ tích đó, đã khiến cô bé Hương ngày nào và là thợ thủ công bây giờ náo nức đưa lên các sản phẩm giấy dó.

Và cô cũng đang dần hoàn thiện, nâng cấp những sản phẩm của mình qua nhiều năm làm nghề. Năm nay Hương tập trung vào kỹ thuật trổ giấy, nhất là trổ giấy trên đèn. “Kỹ thuật này cho phép tạo ra nhiều lớp, nhiều hướng, từ xa tới gần, từ trong ra ngoài, từ nông đến sâu… Do đó bản thân hình thức này đã tựa như một câu chuyện lớp lang rồi, rất thích hợp để mình kể về thế giới cổ tích cho mọi người”, Hương nhiệt tình phân tích về kỹ thuật. Cô gái trẻ cũng cho hay, bản thân cô nảy ra ý tưởng và dấn thân vào làm trổ giấy từ việc quan sát các sản phẩm in laser trên thị trường. Điều đặc biệt là cô làm tất cả các họa tiết, hoa văn đó bằng đôi bàn tay khéo léo của mình và một chiếc dao dụng cụ chỉ hơn mười nghìn đồng. Hương cười khi tôi hỏi rằng, hẳn đó phải là một chiếc dao đặc biệt chứ - “Vâng, chiếc dao mình làm bây giờ xịn hơn chiếc dao cũ, hẳn hai mươi mấy nghìn ấy”. Quả thật ngạc nhiên, là với một chiếc dao bình thường, cô gái ấy tạo nên những đường nét khắc trổ đặc biệt. Hương cho hay, cái khó lớn nhất là làm nhiều sẽ bị… đau tay. “Khi trổ, mình phải tì con dao vừa đủ để nó có những nét cắt đi vừa đủ mềm mại, lại đủ dứt khoát để nét trổ cắt không bị đứt đoạn. Chỉ cần do dự khi đưa tay một chút thôi, nét đi của dao sẽ bị cứng, khiến cho những góc của hoa văn, họa tiết bị tù, xơ giấy, khiến toàn bộ sản phẩm mất đi sự tinh tế”, Hương chia sẻ bí kíp. Như vậy, đúng là chỉ cần một chiếc dao sắc bén vừa đủ, cái quan trọng nhất vẫn là sự khéo léo, kiên nhẫn và tinh tế của đôi bàn tay người thợ mới tạo nên vẻ đẹp của giấy trổ.

Xác định đi đường dài với nghệ thuật thủ công từ giấy cổ truyền, Hương cũng gây ấn tượng khi kết hợp giữa con người bay bổng khi sáng tạo và một người làm kinh doanh đầy tỉnh táo. Trò chuyện với cô về cảm hứng, về quá trình sáng tác, cảm thấy dường như cô luôn trong trạng thái “bay”, khi có thể nói hàng giờ về những họa tiết hoa văn, ý tưởng tuôn trào trong đầu, đến nỗi cô luôn sốt ruột vì đôi tay làm không đuổi kịp với cái đầu đầy nhóc điều mới. Cô cũng sẵn sàng lao vào làm ngày làm đêm, có khi hàng tuần để xong một sản phẩm tâm đắc. Thế nhưng, khi nói về công việc kinh doanh, Đoàn Thái Cúc Hương cũng rất rõ ràng và sắc sảo. Cô định vị sản phẩm của mình không có giá rẻ và phân khúc khách hàng cũng đặc biệt, là những người yêu sản phẩm thủ công, yêu giá trị truyền thống và sẵn sàng chi tiền cho sở thích đó.

Hương cũng hiểu rằng, làm sản phẩm thủ công ở Việt Nam hiện nay thì khó để giàu, nhưng ít nhất là đủ để có thể nghỉ ngơi mỗi khi quá tải với công việc. “Nếu quá vội, mình sẽ bỏ xuống hết, không làm gì nữa, cho phép bản thân được đi chơi, làm việc mình thư giãn như xem triển lãm, uống cà-phê, rồi tối về ăn thật no, ngủ một giấc no say và sáng mai dậy làm điên cuồng như chưa bao giờ được làm”, Hương kể.

Bén duyên với giấy dó qua một workshop đăng ký cho vui trong thời kỳ dịch Covid-19 và rồi trót mê đến mức không dứt ra được, cô giáo tiếng Anh Đoàn Thái Cúc Hương đã rẽ ngang trở thành một thợ thủ công. Cô đã khéo léo kết hợp giữa giấy dó, giấy dướng với mầu đất, với nan tre… đầy sắc màu truyền thống để làm nên những sản phẩm có sự hiện diện cao trong đời sống hiện đại như quạt, chao đèn, bưu thiếp, bao lì xì, lịch Tết, đèn trung thu… Những sản phẩm của Đoàn Thái Cúc Hương có một sức hấp dẫn riêng, với dấu ấn thủ công đậm nét, qua những bức tranh vẽ trên quạt, trên chao đèn, những mầu sắc làm từ đất mộc mạc và không kém phần rực rỡ… được ứng dụng trong trang trí nội thất, chụp ảnh và cả những dịp thật đặc biệt như lễ, Tết, đám cưới, sự kiện.

Không chỉ hướng đến tính ứng dụng cao, Cúc Hương còn muốn kể những câu chuyện riêng biệt đằng sau mỗi một sản phẩm. Lớn lên bên người cha làm nghề chạm đồ gỗ mỹ nghệ, từ nhỏ Hương đã được sống cùng những họa tiết, hoa văn truyền thống, những sản phẩm mỹ nghệ được tạo nên từ đôi bàn tay cha. Điều đó tự ngấm vào người cô một cách thật dung dị mà cũng mạnh mẽ. Các tác phẩm của Đoàn Thái Cúc Hương hầu hết đều được lấy cảm hứng từ những hình ảnh, hoa văn cổ của Việt Nam từ những bộ tứ linh, tứ quý, rồi các tích xưa như lý ngư vọng nguyệt, vinh quy bái tổ…

Ý tưởng và mong muốn rõ ràng là thế, nhưng để thể hiện được hết trên giấy dó cũng không phải dễ dàng. “Khí hậu nước ta là nhiệt đới ẩm gió mùa, do đó điều quan trọng đầu tiên là phải xử lý giấy truyền thống thật tốt, với nhiều cách khác nhau, để bảo đảm giấy không mốc, không bị chùng giấy hay rách giấy khi làm việc, sáng tạo trên đó”, Hương cho hay.

Vào mùa mưa, nồm ẩm, giấy truyền thống với chất tự nhiên rất tốt và khó mốc hơn các loại giấy khác, nhưng với yêu cầu làm sản phẩm thì giấy sẽ hơi chùng một chút và sẽ dễ rách. Đó là lúc sự tìm tòi và kinh nghiệm của người thợ trong Hương tìm ra những cách xử lý giấy nhất định, để bảo đảm chất lượng sản phẩm tới tay người dùng.

Bên cạnh chất lượng giấy, việc sử dụng mầu sắc tự nhiên cũng là một quá trình tìm tòi, thử nghiệm đáng giá của cô gái trẻ. “Mình nhận thấy rằng là chẳng có cái mầu nào mà nó đưa lên trên giấy cổ truyền có thể hợp hơn là với mầu đất, được làm từ các loại đất tự nhiên”, Hương chia sẻ. Thế nhưng mầu tự nhiên thì thường sẽ hạn chế về sắc độ, chỉ có vài tông mầu cơ bản. Để có thể tạo thành nhiều mầu sắc, sắc độ, Hương đã phải tìm tòi, rồi cùng người bạn là họa sĩ để sưu tầm, thử nghiệm các nguyên liệu rất nhiều lần. Hương kể, có những mầu ban đầu tô lên giấy nhìn cũng bắt mắt, nhưng chỉ một thời gian ngắn là bị bay mầu, chuyển về sắc xám khó coi. Rồi có khi thử nghiệm với đất, làm chưa đủ mịn nên vẫn còn độ gợn, khiến cho bức tranh trên sản phẩm không đạt được độ tinh tế, mềm mại… “Có những mầu mình phải làm nó thành cao, rồi để ngoài tự nhiên để cho hả mầu đi, như vậy mầu mới bám lâu được. Thử nghiệm dần dần như thế từng ngày, từng ngày một, có những cái loại mầu mà quá trình làm phải đến 3 - 4 tháng mới bắt đầu đưa vào sử dụng được”, cô vui vẻ kể lại hành trình gian nan nhưng lại đầy cảm xúc ấy.

5-3.jpg
Các sản phẩm từ giấy dó của Đoàn Thái Cúc Hương.

Không giữ “xứ sở thần tiên” cho riêng mình

Đoàn Thái Cúc Hương tự nhận mình có một tuổi thơ tựa như “Alice ở xứ sở thần tiên”, nơi cô lớn lên thật yên bình và đẹp đẽ và Hương tâm sự rằng “không muốn giữ cho riêng bản thân thế giới đó, những ký ức đẹp đó, mà muốn lan tỏa đến tất cả mọi người thông qua các sản phẩm giấy dó”.

“Từ khi còn nhỏ, mình đã rất nhạy cảm với sự thay đổi của mùa. Khung cảnh quê mình khi đó cũng như mọi miền quê Việt Nam thôi, thật giản dị và đẹp đến rung động. Đó có thể là một con ngõ nhỏ với ngôi nhà được rào bằng hàng cây duối, hay những cánh đồng bạt ngàn hoa cải vàng khi vào đông, hoặc là một góc vườn với những cây táo mà mỗi mùa gió, lá táo sẽ bị hất tung về một phía khiến cho phía dưới đổi sang sắc mầu bàng bạc, còn những ngày mùa xuân mưa phùn thì táo ra nhiều chồi non, xanh mơn mởn… Rồi ở quê mình mọi người hay trồng dong riềng, vào những buổi chiều hè khi trời sắp mưa, dong riềng sẽ bị mưa thổi tạt về một phía… Cảnh vật cứ biến đổi thật tự nhiên mà cũng tinh tế theo ngày, theo thời tiết, theo mùa như thế, khiến một đứa trẻ như mình đã biết rung rinh trong lòng và nhớ đến tận bây giờ”. Những kỷ niệm bằng hình ảnh về thế giới cổ tích đó, đã khiến cô bé Hương ngày nào và là thợ thủ công bây giờ náo nức đưa lên các sản phẩm giấy dó.

Và cô cũng đang dần hoàn thiện, nâng cấp những sản phẩm của mình qua nhiều năm làm nghề. Năm nay Hương tập trung vào kỹ thuật trổ giấy, nhất là trổ giấy trên đèn. “Kỹ thuật này cho phép tạo ra nhiều lớp, nhiều hướng, từ xa tới gần, từ trong ra ngoài, từ nông đến sâu… Do đó bản thân hình thức này đã tựa như một câu chuyện lớp lang rồi, rất thích hợp để mình kể về thế giới cổ tích cho mọi người”, Hương nhiệt tình phân tích về kỹ thuật. Cô gái trẻ cũng cho hay, bản thân cô nảy ra ý tưởng và dấn thân vào làm trổ giấy từ việc quan sát các sản phẩm in laser trên thị trường. Điều đặc biệt là cô làm tất cả các họa tiết, hoa văn đó bằng đôi bàn tay khéo léo của mình và một chiếc dao dụng cụ chỉ hơn mười nghìn đồng. Hương cười khi tôi hỏi rằng, hẳn đó phải là một chiếc dao đặc biệt chứ - “Vâng, chiếc dao mình làm bây giờ xịn hơn chiếc dao cũ, hẳn hai mươi mấy nghìn ấy”. Quả thật ngạc nhiên, là với một chiếc dao bình thường, cô gái ấy tạo nên những đường nét khắc trổ đặc biệt. Hương cho hay, cái khó lớn nhất là làm nhiều sẽ bị… đau tay. “Khi trổ, mình phải tì con dao vừa đủ để nó có những nét cắt đi vừa đủ mềm mại, lại đủ dứt khoát để nét trổ cắt không bị đứt đoạn. Chỉ cần do dự khi đưa tay một chút thôi, nét đi của dao sẽ bị cứng, khiến cho những góc của hoa văn, họa tiết bị tù, xơ giấy, khiến toàn bộ sản phẩm mất đi sự tinh tế”, Hương chia sẻ bí kíp. Như vậy, đúng là chỉ cần một chiếc dao sắc bén vừa đủ, cái quan trọng nhất vẫn là sự khéo léo, kiên nhẫn và tinh tế của đôi bàn tay người thợ mới tạo nên vẻ đẹp của giấy trổ.

Xác định đi đường dài với nghệ thuật thủ công từ giấy cổ truyền, Hương cũng gây ấn tượng khi kết hợp giữa con người bay bổng khi sáng tạo và một người làm kinh doanh đầy tỉnh táo. Trò chuyện với cô về cảm hứng, về quá trình sáng tác, cảm thấy dường như cô luôn trong trạng thái “bay”, khi có thể nói hàng giờ về những họa tiết hoa văn, ý tưởng tuôn trào trong đầu, đến nỗi cô luôn sốt ruột vì đôi tay làm không đuổi kịp với cái đầu đầy nhóc điều mới. Cô cũng sẵn sàng lao vào làm ngày làm đêm, có khi hàng tuần để xong một sản phẩm tâm đắc. Thế nhưng, khi nói về công việc kinh doanh, Đoàn Thái Cúc Hương cũng rất rõ ràng và sắc sảo. Cô định vị sản phẩm của mình không có giá rẻ và phân khúc khách hàng cũng đặc biệt, là những người yêu sản phẩm thủ công, yêu giá trị truyền thống và sẵn sàng chi tiền cho sở thích đó.

Hương cũng hiểu rằng, làm sản phẩm thủ công ở Việt Nam hiện nay thì khó để giàu, nhưng ít nhất là đủ để có thể nghỉ ngơi mỗi khi quá tải với công việc. “Nếu quá vội, mình sẽ bỏ xuống hết, không làm gì nữa, cho phép bản thân được đi chơi, làm việc mình thư giãn như xem triển lãm, uống cà-phê, rồi tối về ăn thật no, ngủ một giấc no say và sáng mai dậy làm điên cuồng như chưa bao giờ được làm”, Hương kể.

“Nhiều người cho rằng, chỉ tính tiền cốt, rồi cộng thêm một chút chi phí vào gọi là lấy công làm lãi, thế là đủ, nhưng mình thì cho rằng, đó không phải cách tốt để đi đường dài”, Hương bày tỏ rõ ràng, “và nhiều người trẻ đã bị mắc kẹt trong đó, khi không đủ tiền để nuôi sống bản thân, thì sẽ mệt mỏi, lo lắng, như vậy làm sao để có sức sáng tạo, bay bổng được nữa”.

Có thể bạn quan tâm

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.