Nhà thơ & Bài thơ hay

Thả bầy chữ về miền ánh sáng

Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường

Thả bầy chữ
qua cánh đồng, dòng sông, những cơn dông
qua thăm thẳm bóng đêm
về miền Ánh Sáng

- Nguyễn Thúy Quỳnh

Trong rộng dài nguồn cảm hứng, không ít nhà thơ lấy ngay thơ làm đối tượng để viết về. Ở đó, có người đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Thơ là gì, một câu hỏi tưởng đơn giản nhưng không hề dễ. Có người lại băn khoăn về mỹ học của thơ: Cái Đẹp hữu dụng hay Cái Đẹp tự nó? Vẻ đẹp và tư thế của nhà thơ ra sao? Cũng không ít người đi vào yếu tố ngôn từ nghệ thuật của thơ?... Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh mang một mối bận tâm khác, thường trực, cốt lõi: Sự bất lực của thơ trước cuộc đời. Đây là một câu hỏi nằm trong một nan đề lớn hơn: Thơ có ích cho ai? Ngay từ những tập thơ đầu tiên cho đến tập sau cùng, “Hai phía phù sinh” (2018), thơ Thúy Quỳnh đều vậy.

Trong một bài thơ nói về công việc thường nhật của mình gồm có cả lao động thơ, nhà thơ không ngại ngần tự bạch: Nơi tôi cất nỗi xấu hổ của kẻ bất tài/ sau mỗi ngày khoác túi ra đi/ bánh xe tôi cán lên vết xe thồ của những người bán hàng rong/ mà không làm được điều gì có ích như họ/ không làm nổi kẻ bán chữ rong” (Về căn phòng của tôi). Nhà thơ nhìn vào ngay chính nơi ở của mình, rồi nhìn rộng ra cõi tha nhân, tự thấy thơ mình không giúp được gì cho những phận người. Như một tự thú buồn. Lại nữa, ở một lần khác, khi “Đọc thơ ngày mất điện”, nhà thơ tiếp tục dằn vặt về thơ ca, một loại hoạt động tự nhiệm, tự buộc vào: Đọc thơ ngày mất điện/ Chợt thấy hoang mang/ chỉ thấy xác chữ ngổn ngang/ trong những ngôi nhà giấy/ Có phải ta mất điện không nhìn thấy thơ/ Hay vì thơ mất điện?... Ở đây, nhà thơ xác lập một tương quan: Người làm thơ và sản phẩm thơ trong tình thế một trong hai hoặc cả hai đều mất năng lượng chữ - một phẩm tính luôn đòi hỏi tâm sâu và tài lớn của người sáng tạo. Những cật vấn về thơ như vậy cho thấy tác giả của chúng không hề dễ dãi trong cái nhìn về thơ, trong lao động làm thơ nói chung; và càng cho thấy khát vọng làm ra một thứ thơ có nghĩa lý cho đời.

Càng về các tập thơ cuối của Nguyễn Thúy Quỳnh càng xuất hiện dạng thơ mang tính xã hội mạnh mẽ với một mật độ dày đặc. Đó là loại thơ cộng hưởng với những lâm nguy của cộng đồng cả trong và ngoài nước, cả do thiên tai và nhân tai. Đây là thảm họa động đất, bão lũ. Kia là dịch bệnh hoành hành. Kia nữa là tai nạn lao động, tai nạn giao thông. Tác giả bám vào những trường hợp rất cụ thể: Một em bé chết đói, một vụ rơi máy bay, một tốp thanh niên đi kiếm ăn xứ người, một đàn vịt bị thảm sát, một con mèo bị xe cán chết, một con sông bị ô nhiễm, một cái cây bị đốn gục, v.v. Sự mẫn cảm nhọn sắc của nhà thơ đã sinh ra một kiểu thơ “hành xác” đau đớn, mang tính xã hội, tham dự, cảnh tỉnh, đánh thức tâm can... Đây là tiếng nói công dân. Đây còn là tiếng khóc đau đớn trong tư cách của một người làm mẹ: Không một lời biện minh nào đủ lấp đầy sự ra đi tức tưởi của con,/ không một sự sám hối nào đủ xóa tội cho những người ở lại./ Chúng ta,/ những kẻ thản nhiên sống và ngợi ca sự sang giàu/ giữa trùng trùng áp-phích, pa-nô quảng cáo sáng choang/ không một ai đủ tư cách cầu xin con,/ một em bé chết đói giữa ban ngày,/ tha thứ (Tặng linh hồn bé Nhung). Tâm hồn của nhà thơ hay hướng về cái khổ, bén nhạy với cái khổ. Khổ nên thương. Thương mà bất lực nên cảm thấy như mình mắc lỗi... Khi nói về những mất mát, khổ đau của những người chung quanh, rộng ra là cõi người, thơ Thúy Quỳnh chan đầy nỗi xót thương, nhiều khi nức nở. Người sống tốt thường hay đau, cũng bởi tự chuốc lấy mà thành.

Tuy nhiên, những điều vừa nói trên kia chỉ là một phía của con người thi sĩ. Ở phía khác, nhà thơ hiện lên trong tư thế của một người luôn biết phát hiện, nâng niu những vẻ đẹp bình dị, tự nhiên, tử tế ở đời. Có lẽ, đây là điểm khả dĩ nhất để tâm hồn nhà thơ được cứu chuộc. “Đêm thơ của các thi sĩ nông dân” rất có thể chỉ là những nôm na, quê kiểng, không đáng gì trong con mắt của kẻ ích kỷ và trịch thượng. Nhưng nữ thi sĩ đã nhìn thấy: Họ đã hát vô tư như ngày xưa tiên tổ/ Hát giữa sân đình, hát với trăng sao/ Thơ vấn vít trên điệp trùng sóng lúa/ Gửi những điều nhân đức đến muôn sau (...)/ Cho chúng tôi nhận ra giữa ngờm ngợp phố/ Tâm hồn mình đang nghèo đến thế nào!. Những câu thơ không chỉ là kết quả của tấm lòng mà còn là của một quan niệm về con người, một cái nhìn mỹ học về những vẻ đẹp cao quý của tâm hồn; ngược lại với những cái hào nhoáng bên ngoài, ồn ào và rỗng. Khi viết về một người phụ nữ nông dân đi chợ trong ngày mùng tám tháng Ba (Đồng hành), về một em bé gánh củi đi chợ sớm (Một sáng Đồng Văn), về một nhà thơ, một người về hưu, một thầy giáo già..., nhà thơ đều chan chứa nỗi cảm thương, niềm trân quý phẩm giá làm người. Vệt thơ này như thể âm bản đối trọng với vệt thơ dương bản chất vấn trên kia, cả hai cộng hưởng làm nên sự đa điệu đa sắc của thơ Nguyễn Thúy Quỳnh.

Tôi muốn nói thêm điều này nữa, một trữ lượng cảm hứng thi ca nếu dồi dào, giàu tiềm lực, tự nó luôn tìm cách trổ ra nhiều ô cửa để đơm hoa kết trái. Thơ Thúy Quỳnh không dừng lại ở cái khổ của tha nhân. Ở chiều ngược lại, thi sĩ đào vào nỗi mình, phận mình. Có lần, trong bài thơ “Dựng nhà”, nữ thi sĩ ví đời con người ta tựa như ngôi nhà có nhiều cánh cửa. Bốn cánh cửa, trong đó có ba cánh mở ra miền thực tại: Hướng núi, hướng biển, hướng láng giềng, còn cánh thứ tư mở vào cõi tâm linh, hướng vọng tổ tiên. Tưởng thế đã là trọn vẹn. Nhưng thật bất ngờ, cánh cửa thứ năm xuất hiện: Cửa trổ lên trời/ mai ngày/ không nợ nần chi nữa/ thuận đường mà rong chơi”. Thì ra, nữ thi sĩ không thôi khao khát chinh phục giới hạn: Bầu trời. Bầu trời đồng nghĩa với Ánh sáng, với Tự do. Một thi tính mở ra bát ngát, miên viễn, cao quý...

Thơ Nguyễn Thúy Quỳnh là thế, và hơn thế!

Nhân Dân hằng tháng trân trọng giới thiệu hai bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh

DỰNG NHÀ

Trông trời trông đất trông người trông ta
Dựng một cái nhà mở ra năm cửa

Cửa quay hướng núi
bốn mùa tốt tươi
theo đời trôi dài cùng mây khói
có lúc về bên núi ta ngồi.

Cửa trông ra biển
rười rượi gió lành
lỡ có ngày ta lấm láp
biển gột dùm cho tới trong xanh.

Cửa mở sang láng giềng
ta mang hết thiện chân ra đổi
mong nhận về đôi kẻ tri âm
khi tối đèn tắt lửa.

Cửa vọng ông bà
nơi ta bước vào cúi đầu, bước ra dài rộng
gập ghềnh đường xa, quanh co lối hẹp
những chân nhang dõi theo
nhắc lối thơm về.

Cửa trổ lên trời
mai ngày
không nợ nần chi nữa
thuận đường mà rong chơi.

mht2.jpg
Minh họa | Nguyễn Vân Chung

MỘT SÁNG ĐỒNG VĂN

Vừa mới sáng đã gặp em góc chợ
Hẳn em đi khi lá rừng còn ngủ
Bó củi to trùm lên lưng nhỏ
Từ bản nào xuống vậy, bé ơi?

Mưa Đồng Văn, đá cũng sũng nước rồi
Có chiếc ô, em che lên củi
Củi ướt ai mua, làm sao đem về núi?
Mưa vô tình lây ướt cả sang tôi.

Phiên chợ ngày mưa thưa thớt bóng người
Em cõng củi dầm chân đứng đó,
Tôi khoác túi bồn chồn về phố
Có vệt khói dài lặng lẽ theo sau.

mht.jpg
Minh họa | Nguyễn Vân Chung

Có thể bạn quan tâm

Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Thị Kim Nhung của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Trung du khắc khoải cuộc về

Tôi nhớ một buổi trưa lâu rồi, gặp và quen Nguyễn Thị Kim Nhung, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội ở một quán ồn ã hợp với cánh đàn ông.

Ký họa chân dung nhà thơ Hữu Vi của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ của những thương buồn

Trong các cây bút người dân tộc thiểu số hiện nay, tôi thấy không nhiều người giữ được một tâm hồn bản địa thuần ròng như trường hợp nhà thơ Hữu Vi (Vi Văn Choồng) - người dân tộc Thái, tỉnh Nghệ An.

Ký họa chân dung nhà thơ Lữ Mai của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Những phức cảm thơ

Nhận diện một gương mặt tác giả chưa khi nào là một công việc dễ dàng. Và lại càng khó khăn hơn khi tác giả ấy có một lịch sử thực hành thơ luôn biến hóa, năng sản, phong nhiêu. Nhà thơ Lữ Mai là một người như thế...

Ký họa chân dung nhà thơ Lý Hữu Lương của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Căn tính Dao LÝ HỮU LƯƠNG

Theo như tự thuật của nhà thơ, những người dân làng quê nơi anh sinh ra không hề có một ý niệm gì về thơ, về nhà thơ, về thi sĩ mang tên Lý Hữu Lương. Trong cái nhìn của dân làng, anh chỉ là một trai bản, một người con xa quê, một anh bộ đội.

Ký họa chân dung nhà thơ Vi Thùy Linh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Vi Thùy Linh và hành trình vượt lên chính mình

Tính từ bài thơ đầu tiên viết năm 15 tuổi (tháng 9/1995), sau này được đưa vào tập thơ đầu tay (Khát, NXB Hội Nhà văn, 1999), Vi Thùy Linh đã có một hành trình sáng tác 30 năm với 7 tập thơ. 30 năm trôi đi gắn với bao đổi thay, biến động trong đời sống, thiếu nữ Vi Thùy Linh đã là bà mẹ hai con.

Ký họa chân dung nhà thơ Trần Nhật Minh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Trần Nhật Minh - Thơ và những cuộc du chơi

Đã từng làm việc ở Ban Văn học - Nghệ thuật - Âm nhạc, Đài Tiếng nói Việt Nam, Trần Nhật Minh quen biết, giao du với nhiều văn nghệ sĩ. Minh không chơi thì thôi, đã chơi thì luôn hết lòng với bạn.

Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hùng Vĩ của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Em đem mùa hạ rót vào mùa đông”

Những đêm mùa đông chờ Xuân, nơi căn phòng nhỏ ấm, lũ sinh viên nghèo lại quây quần quanh thầy Nguyễn Hùng Vĩ, giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội (cũ), một ông giáo hồn hậu, quê nghèo lam lũ xứ Nghệ, luôn trọng nghĩa trọng tình.

Nhà thơ Vân Anh.

Thơ Vân Anh “mặc định nhịp trẻ”

Dễ thấy lâu nay, người viết khi cho in tuyển tập đồng nghĩa với việc gom lại, khép lại quá trình sáng tác. Nhưng cũng có người sau đó vẫn tiếp tục xuất bản tác phẩm, không phải “út, ít” bòn mót, mà là những “đứa con” bụ bẫm, khỏe mạnh, ai cũng tấm tắc, trầm trồ.

Ký họa chân dung nhà thơ Trần Hoàng Thiên Kim của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Vì yêu mà thao thức

Trần Hoàng Thiên Kim là cái tên không xa lạ với công chúng ở các lĩnh vực báo chí, truyền hình, nghiên cứu văn học hay thơ ca.

Ký họa chân dung nhà thơ Ngô Thanh Vân của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Em và phố và thơ

Ai đó đã từng nói: thơ là bản tự thuật của tâm hồn. Thật thế. Ngoài đời, con người có thể phần nào che giấu được mình, nhưng trong thơ thì không.
Ký họa chân dung nhà thơ Phùng Thị Hương Ly của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Cõng lời thương trên lưng

Nữ nhà thơ Phùng Thị Hương Ly sinh ra và lớn lên ở Bắc Kạn, người Tày, học ngành viết văn, sau ra trường làm báo, hiện sống và viết tại quê hương. Một phác thảo lai lịch như thế cho thấy hai điểm quan trọng: người thơ ấy có một vốn liếng hết sức tự nhiên, sống động về nơi chốn mình, dân tộc mình và được đào tạo bài bản trong môi trường viết.
Ký họa chân dung nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

NỒNG NÃ HƯƠNG VỊ MIỀN CHÂU THỔ CHÍN RỒNG

Nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều sinh ra và lớn lên ở chính giữa lòng châu thổ Cửu Long. Hiện chị cũng sống và viết tại đây. Như thế, tức là cả đời “ăn chịu” quê hương, xứ sở. Như nắng như gió, như đất như cây, như điệu ca vọng cổ, thơ Huỳnh Thúy Kiều cứ thế cất lên tự nhiên, đậm hương, nồng vị và lan tỏa.
Ký họa chân dung nhà thơ Đào Quốc Minh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Một phác thảo thơ Ðào Quốc Minh

Những năm gần đây, cái tên Đào Quốc Minh trở nên khá quen thuộc trong văn giới và bạn đọc. Anh viết và xuất bản đã có đến năm sáu tập thơ; tập gần đây nhất là “Phục sinh” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2024) với dung lượng khá lớn, 180 bài.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Quả thơm thì ở lại”

Người ta vẫn thường hay nói nhà thơ không có tuổi. Đó là một cách nói vui, lãng mạn, nghiêng về phía an ủi nhau. Thật ra, ai cũng vậy thôi, nhà thơ cũng như tất thảy chúng sinh, không tránh khỏi quy luật của tự nhiên. Tất thảy chúng ta già dần dần, đi theo quy luật của muôn đời: sinh, lão, bệnh, tử… không thể khác.
Ký họa chân dung nhà thơ Trần Kim Hoa của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ của những ký ức cất lời

Trần Kim Hoa làm thơ dễ đã 30 năm có lẻ. Và đã ra được 3 tập thơ riêng đầy đặn, trong đó tập Bên trời gần đây nhất đã được trao Giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Việt nam (2020). Trong vòng ngần ấy thời gian, với 3 tập thơ, cho thấy tác giả không phải là người ham chạy theo số lượng.
Ký họa chân dung nhà thơ Đoàn Văn Mật của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Sáng lên từ những nhỏ nhoi”

Cho đến nay, Đoàn Văn Mật đã trình làng ba tập thơ, tập gần đây nhất là “ Ngoài mây trời đầy trống vắng ” (NXB Hội Nhà văn, 2023).
Ký họa chân dung nhà thơ Kiều Maily của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ, hoa của người

Trong bài thơ mang tên “Nàng, hoa của cát” (đồng thời cũng được lấy làm tên cho tập thơ, NXB Hội nhà văn, 2019), nhà thơ Kiều Maily đã có những câu thơ như thể tự họa về mình: Nàng, hoa của cát/ yếu đuối giữa men tình/ kiêu hãnh với cô đơn/ nỗi mơ cuốn nàng về miền hạnh phúc/ Nàng, hương của đất/ chắt chiu giọt phù sa nuôi nấng đời cây/ hẹn mùa gieo hạt. Bài thơ có ba chủ thể: nàng, hoa và cát trong mối quan hệ gắn bó, ràng rịt với nhau.
Ký họa chân dung nhà thơ Trần Ngọc Mỹ của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nhủ lòng vượt lên những phôi pha

Một người làm thơ trẻ thông thường hay lựa chọn một cách thế sống cùng, sống giữa, đồng hành với thế hệ mình và với đời sống hôm nay trong tất cả sự bề bộn, phức tạp và sống động của nó.
Ký họa chân dung nhà thơ Phạm Thị Ngọc Liên của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Phạm Thị Ngọc Liên: Người đi tìm chân dung tình yêu

Tròn 20 năm, nữ thi sĩ Phạm Thị Ngọc Liên mới trở lại thi đàn bằng tập thơ dày dặn mang tên “Trong tôi có nhiều tôi” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn). 99 bài thơ kết thành một “con đường thơ” với biển chỉ đường là “Tình yêu”. Phải, tất cả đều là thơ Tình, của một người đàn bà hồn nhiên, đa đoan, sẵn sàng “nhắm mắt đi trên cầu thăng bằng/ nồng nàn/ liều lĩnh” để tìm cho được chân dung của Tình yêu, hay là chân dung thân phận con người.
Ký họa chân dung nhà thơ Thy Nguyên của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thy Nguyên - Người đàn bà làm thơ buồn

Thơ gắn với buồn từ khi nào, có lẽ từ lúc thơ bắt đầu. Buồn là một phẩm chất của thơ, là một phẩm chất của đời sống con người vốn mong manh hữu hạn, nhiều bất toại hơn như ý. Người cầm bút tìm đến thơ như một cách để cất giấu, lại như một cách để phơi bày nỗi buồn trên mặt giấy. Ðể tìm kiếm một sự đồng cảm, tìm kiếm tri âm. Thy Nguyên là kiểu người làm thơ như vậy, “chơi” với buồn, và “phơi” nỗi buồn, không đắn đo giấu giếm.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hồng của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ của những xuân thì

Nguyễn Hồng là một cái tên dường như đã quen trong đời sống văn học hiện thời. Chị khá chắc tay trong nhiều thể loại: truyện ngắn, tản văn, thơ. Riêng với thơ, chị đã cho in tập “Ví dụ anh” (2016), và đã đăng rải rác khá nhiều bài thơ lẻ trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Một dáng vóc thơ dần được định hình...
Minh họa trang thơ: ĐẶNG TIẾN

Trang thơ

Nhân Dân hằng tháng xin giới thiệu cùng độc giả trang thơ Tết.
Ký họa chân dung nhà thơ Phùng Khắc Bắc của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường

Phùng Khắc Bắc, "Một chấm xanh"

Vào quãng năm đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ trước, khi đang làm nghiên cứu sinh ở Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi thấy trong văn giới xôn xao bàn tán về một tài thơ rất lạ mới có 47 tuổi vừa mới khuất. Đó là nhà thơ Phùng Khắc Bắc, tác giả tập thơ duy nhất mang tên “Một chấm xanh” do NXB Quân đội nhân dân phát hành cuối năm 1991.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nguyễn Hoàng Sơn, thơ viết cho thiếu nhi và...

Bạn đọc yêu thơ ngay từ thập niên 80 của thế kỷ XX đã biết đến một cây bút viết thơ cho thiếu nhi mang tên Nguyễn Hoàng Sơn. Lúc ấy, thơ viết cho thiếu nhi nổi bật nhất vẫn là một số cây bút quen thuộc, thế hệ đàn anh như Võ Quảng, Phạm Hổ, Định Hải... Cái tên Nguyễn Hoàng Sơn cùng vài cây bút thế hệ anh như Phạm Đình Ân, Trương Hữu Lợi, Mai Văn Hai... mới bắt đầu thấp thoáng.
Ký họa chân dung thi sĩ Văn Cao của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Văn Cao: "Ngày đêm làm ngọc"

Trong các ấn phẩm về thơ Văn Cao đã xuất bản, chỉ thấy chừng chưa đến mươi bài thơ được viết từ năm 1939 đến năm 1942.