Đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại
Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi hợp nhất đã trở thành một siêu đô thị, một không gian phát triển mới có quy mô lớn, liên kết chặt chẽ về kinh tế, đô thị, công nghiệp, cảng biển và hạ tầng. Việc tích hợp các quy hoạch chung và quy hoạch tỉnh hiện có của ba địa phương thành một quy hoạch tổng thể là rất cần thiết để làm cơ sở thống nhất định hướng tổ chức không gian, phân bổ nguồn lực và phát triển hệ thống hạ tầng liên vùng, khắc phục tình trạng phân tán, chồng lấn hoặc thiếu đồng bộ giữa các quy hoạch trước đây. Qua đó, hình thành một cấu trúc phát triển tổng thể, cân bằng và bền vững cho Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.
Ông Cường nhấn mạnh, quy hoạch xác định bốn quan điểm lớn: phát triển đô thị toàn cầu, lấy con người làm trung tâm; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ từ nghiên cứu đến thương mại hóa; cơ chế, chính sách mở, vượt trội, cạnh tranh quốc tế; tổ chức không gian tích hợp, hạ tầng hiện đại, kết nối đất liền-biển-hàng không; đồng thời, quy hoạch xác định mục tiêu phát triển theo 3 giai đoạn. Đến năm 2030, thành phố hướng tới trở thành đô thị văn minh, hiện đại, nổi trội ở Đông Nam Á. Đến năm 2045, mục tiêu là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của châu Á. Từ năm 2075 và xa hơn, thành phố hướng tới đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại và phát triển toàn diện.
“Theo Quy hoạch, tầm nhìn 100 năm Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại, toàn diện, sánh ngang các đô thị hàng đầu thế giới”, ông Cường nhấn mạnh.
Về mô hình phát triển tổng thể, thành phố phát triển theo mô hình siêu đô thị đa cực, đa tâm. Cấu trúc gồm 5 cực động lực, 5 trung tâm vệ tinh, 5 hệ liên kết chiến lược và 10 vùng quản trị phát triển.
Theo đó, 5 cực động lực gồm: lõi trung tâm dịch vụ tài chính quốc tế; đổi mới sáng tạo phía đông; công nghiệp, công nghệ cao, logistics phía bắc; cảng biển, thương mại tự do, logistics quốc tế và năng lượng phía nam; đô thị, giáo dục, y tế phía tây.
Đối với 5 trung tâm vệ tinh bao gồm: Côn Đảo; Long Hải-Hồ Tràm; Hóc Môn-Củ Chi; Bàu Bàng; Tân Uyên-Bắc Tân Uyên.
Về 5 hệ liên kết chiến lược gồm: Bắc-Nam liên kết từ cửa khẩu đến không gian biển, kinh tế lục địa đến kinh tế đại dương; Đông-Tây liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu Long với Đông Nam Bộ; liên kết công nghiệp-sản xuất-logistics đa phương thức, tối ưu chuỗi cung ứng; hạ tầng đô thị đa tầng là xương sống phát triển đô thị và tái phân bố dân cư; liên kết xanh-xanh dương (sông Sài Gòn-sông Đồng Nai là trục trung tâm) là không gian sinh thái nền của thành phố bảo đảm phát triển bền vững.
Đối với 10 vùng quản trị phát triển, Quy hoạch chỉ rõ, trên cơ sở chức năng chủ đạo, điều kiện đất đai, hạ tầng, môi trường, bản sắc và yêu cầu kiểm soát phát triển, đề xuất chỉ tiêu hạ tầng kỹ thuật và xã hội, tạo cơ sở quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch phù hợp đặc thù từng khu vực.
Ông Cường cho biết, Quy hoạch của thành phố sẽ tổ chức lại không gian Thành phố Hồ Chí Minh theo mô hình siêu đô thị đa cực, đa trung tâm, đa tầng, chuyển từ tập trung lõi sang mạng lưới cực tăng trưởng liên kết chặt chẽ. Phát triển thuận tự nhiên, phù hợp sức chịu tải; kiểm soát đô thị hóa vùng thấp trũng, nhạy cảm; hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai, rừng Cần Giờ... là nền xanh-xanh dương bảo đảm sinh thái và bản sắc cảnh quan. Ưu tiên phát triển nén theo TOD tại đầu mối giao thông, tái thiết khu vực kém hiệu quả. Tổ chức không gian ba chiều: mặt đất, ngầm và trên cao, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và năng lực cạnh tranh quốc tế.
Đến năm 2050 hoàn thành 18 tuyến đường sắt đô thị
Quy hoạch chỉ rõ, thành phố phát triển hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thông minh, có khả năng chống chịu cao.
Về giao thông đường bộ, thúc đẩy các hành lang giao thương quốc tế, quốc gia và liên vùng, nâng cao hiệu quả khai thác, bảo đảm mật độ mạng lưới đường bộ liên khu vực tối thiểu 2,22km/km², tỷ lệ đảm nhận vận tải hành khách công cộng đạt 55-65%.
Về đường sắt đô thị, đến năm 2050 hoàn thành mạng lưới 18 tuyến với khoảng 961km đường sắt đô thị và khoảng 450km LRT/Tramway, hình thành các đầu mối trung chuyển đa phương thức tại nhà ga, sân bay, cảng biển, trung tâm đô thị và phát triển các khu TOD theo cấp độ.
Về đường thủy, quy hoạch luồng hàng hải khoảng 322km, các cảng tiềm năng thành cảng biển loại đặc biệt, hệ thống cảng sông, bến thủy nội địa kết nối cảng cửa ngõ quốc tế Cái Mép-Thị Vải, tích hợp vận tải hành khách đô thị và du lịch đường sông.
Về thoát nước, chống ngập, sụt lún, áp dụng giải pháp công trình và phi công trình theo từng lưu vực, phân vùng thích ứng sụt lún thành 4 nhóm (an toàn, bảo vệ, thích ứng, sinh thái/ngập mặn) và kiểm soát phát triển theo cao độ, mức độ rủi ro. Trong Quy hoạch cũng nêu rõ về phát triển không gian ngầm theo hướng có trọng điểm tại các trung tâm, đầu mối giao thông, phân theo ba tầng và kiểm soát chặt tại vùng sinh thái và rủi ro cao.
Đối với không gian tầm thấp, tầm cao, Quy hoạch định hướng phát triển không gian 3D làm động lực tăng trưởng mới, bảo đảm an ninh-quốc phòng, phân vùng quản lý trên nền không gian số và hạ tầng vật lý đồng bộ. Đối với không gian biển, lấy Vịnh Gành Rái-Cần Giờ-Cái Mép, Thị Vải-Vũng Tàu-Côn Đảo làm không gian liên kết, tổ chức đồng bộ cảng biển, logistics, công nghiệp công nghệ cao, năng lượng, đô thị, du lịch biển-đảo, xác định tiêu chí, vị trí tiềm năng cho các dự án điện gió, lấn biển.
Theo đồng chí Võ Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố, Quy hoạch tổng thể thành phố thời kỳ 2025-2050, tầm nhìn 100 năm là khung chiến lược, định hình cấu trúc và năng lực cạnh tranh của thành phố trong dài hạn trên cơ sở cụ thể hóa định hướng lớn của Bộ Chính trị và Ban chấp hành Đảng bộ thành phố. Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của quy hoạch là phải vượt qua tư duy chia cắt theo địa giới, ngành, lĩnh vực và dự án; phải tổ chức thành phố thành một chỉnh thể thống nhất, đa cực, đa trung tâm; liên kết hiệu quả giữa đô thị, công nghiệp, dịch vụ, logistics, kinh tế biển và không gian sinh thái; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao làm những động lực mới; đồng thời lấy con người và chất lượng sống của người dân làm trung tâm của phát triển.
Tham gia đóng góp ý kiến, các đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố đánh giá cao công tác chuẩn bị, đồng tình với định hướng đô thị đa cực, đa trung tâm, lấy chất lượng sống của người dân làm trọng tâm. Các đại biểu cho rằng, quy hoạch phải mở rộng không gian đầu tư, đồng thời giải quyết căn cơ các “điểm nghẽn” của thành phố hiện nay đặc biệt là về ùn tắc giao thông, ngập nước, ô nhiễm môi trường; bảo tồn giá trị văn hóa, bảo đảm an sinh, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; đồng thời đề nghị tiếp tục làm rõ cơ sở khoa học của các mục tiêu và phân kỳ nguồn lực để bảo đảm tính khả thi.
Về tổ chức không gian, một số ý kiến đề nghị xác định cụ thể hơn vai trò, chức năng và mối liên kết giữa các khu vực. Ông Phan Ngọc Phúc, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Nhà Bè cho rằng trong quy hoạch, đối với phía nam, cần làm rõ vị trí của Nhà Bè, Hiệp Phước trong tổng thể phát triển thành phố, gắn hệ sinh thái sông nước với hạ tầng giao thông chiến lược, chống ngập và thích ứng biến đổi khí hậu.
Ở khu vực Tây Bắc, có ý kiến đề xuất phân biệt rõ định hướng phát triển với Tây Nam do khác nhau về địa hình, tính chất kinh tế và hướng kết nối. Vai trò của Hóc Môn, Củ Chi cần được xem xét đầy đủ trong mối liên hệ với công nghiệp, logistics nội địa, nông nghiệp công nghệ cao, đô thị đại học và du lịch lịch sử, văn hóa. Có ý kiến đề nghị rà soát sự thống nhất giữa định hướng phát triển đô thị tại khu vực này với việc nghiên cứu nâng cấp các xã lên phường.
Được biết, sau khi Hội đồng nhân dân thành phố thông qua Nghị quyết về Quy hoạch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố sẽ xem xét phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 2025-2050, tầm nhìn 100 năm theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện Quy hoạch bảo đảm chất lượng, tiến độ, đưa Quy hoạch tổng thể thành phố sớm đi vào cuộc sống.