Thành phố Hồ Chí Minh hợp nhất với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mở ra một không gian phát triển mới với quy mô kinh tế, công nghiệp, đô thị và kinh tế biển lớn hơn. GRDP của Thành phố Hồ Chí Minh sau hợp nhất ước đạt hơn 3,6 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 1/3 quy mô nền kinh tế cả nước.
Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở sự gia tăng về quy mô, mà còn ở sự bổ trợ giữa những thế mạnh đã được hình thành tại ba địa phương trước hợp nhất. Thành phố Hồ Chí Minh có thế mạnh về dịch vụ, tài chính, thương mại, khoa học và công nghệ; Bình Dương có nền tảng công nghiệp và sản xuất quy mô lớn; Bà Rịa-Vũng Tàu có lợi thế về kinh tế biển, cảng nước sâu, năng lượng và công nghiệp.
Những thế mạnh này tạo dư địa để tổ chức lại không gian phát triển theo hướng liên kết chặt chẽ hơn giữa sản xuất, dịch vụ, logistics, nghiên cứu và thị trường. Tuy nhiên, trước hợp nhất, sự phân tách về địa giới hành chính và cơ chế phối hợp cũng khiến các nguồn lực và lợi thế bổ trợ chưa được khai thác đầy đủ trong một không gian thống nhất.
Chuyên gia cho rằng, trước đây chịu sức ép về không gian sản xuất và quá trình đô thị hóa. Trong khi đó, Bình Dương có nền tảng công nghiệp nhưng cần nâng cao tỷ trọng các ngành có giá trị gia tăng cao. Còn Bà Rịa-Vũng Tàu có lợi thế lớn về cảng biển nhưng cần tăng cường liên kết giữa hoạt động cảng với các chuỗi sản xuất, logistics và dịch vụ.
Thạc sĩ Bùi Duy Hoàng, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Sau hợp nhất, cấu trúc kinh tế của thực thể mới đã thay đổi căn bản, mô hình "đơn cực dịch vụ" của Thành phố Hồ Chí Minh cũ được thay thế bằng mô hình "công nghiệp-dịch vụ song hành”.
Sự dịch chuyển cơ cấu này mở ra khả năng hình thành một chuỗi giá trị khép kín hoàn chỉnh, từ năng lượng, hóa chất, vật liệu cơ bản (Bà Rịa-Vũng Tàu cũ), đến chế biến chế tạo quy mô lớn (Bình Dương cũ) và nghiên cứu phát triển, tài chính, logistics, điều phối chuỗi cung ứng (Thành phố Hồ Chí Minh cũ), điều mà chưa một địa phương đơn lẻ nào tại Việt Nam có thể sở hữu trọn vẹn.
Tuy nhiên, tiềm năng không tự động chuyển hóa thành hiện thực. Câu hỏi đặt ra là Thành phố Hồ Chí Minh mới cần vận hành theo mô hình tăng trưởng nào để chuyển hóa lợi thế quy mô và cộng hưởng cấu trúc thành động lực tăng trưởng, đủ sức phá vỡ quán tính tăng trưởng một con số (5-7%/năm) và vươn tới mục tiêu tăng trưởng hai con số (10-12%/năm) một cách bền vững.
Theo Thạc sĩ Bùi Duy Hoàng, để khai thác hiệu quả không gian phát triển mới, Thành phố Hồ Chí Minh cần tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị phù hợp với quy mô của một đô thị lớn, tăng cường năng lực điều phối thống nhất về quy hoạch, đầu tư công, phát triển hạ tầng và xúc tiến đầu tư.
Trong đó, quy hoạch cần được tiếp cận theo hướng liên kết các không gian kinh tế thay vì tổ chức phát triển theo ranh giới hành chính cũ. Hạ tầng giao thông, logistics, đô thị, công nghiệp và các trung tâm đổi mới sáng tạo cần được đặt trong một tổng thể để tăng khả năng kết nối và phân bổ nguồn lực.
Một hướng tiếp cận được đề xuất là tổ chức không gian phát triển theo các chuỗi giá trị có tính bổ trợ. Khu vực đô thị trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh có thể phát huy thế mạnh về tri thức, dịch vụ, tài chính, khoa học và công nghệ. Khu vực Bình Dương cũ phát triển công nghiệp, chế tạo và các ngành công nghiệp công nghệ cao. Khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu cũ phát huy lợi thế về kinh tế biển, cảng, logistics và năng lượng.
Cùng với tổ chức lại không gian, hạ tầng kết nối cần được xem là một trong những ưu tiên để bảo đảm sự vận hành thông suốt của toàn bộ chuỗi giá trị. Khi khoảng cách giữa các khu vực được rút ngắn bằng hệ thống giao thông, logistics và hạ tầng số đồng bộ, lợi thế về quy mô mới có điều kiện chuyển thành lợi thế về năng suất và năng lực cạnh tranh.
Trong quá trình tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần gắn chặt hơn với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tiến sĩ Hoàng Thị Thu Huyền, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ cho rằng, Thành phố Hồ Chí Minh cần tăng cường kết nối nghiên cứu và phát triển (R&D) với sản xuất và thương mại hóa công nghệ. Trọng tâm không chỉ là gia tăng đầu tư cho nghiên cứu, mà quan trọng hơn là tạo cơ chế để doanh nghiệp trở thành chủ thể đặt hàng, tham gia nghiên cứu và đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Theo hướng này, thành phố có thể thúc đẩy các chương trình R&D chung giữa trường đại học, viện nghiên cứu, khu công nghệ cao và doanh nghiệp; phát triển phòng thí nghiệm dùng chung, trung tâm thử nghiệm và các tổ chức hỗ trợ bảo hộ sở hữu trí tuệ; qua đó, tạo dòng chảy liên tục từ nghiên cứu đến thử nghiệm, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm.
Cùng với đó là yêu cầu nâng cao năng lực của công nghiệp hỗ trợ và tăng cường liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước. Chính sách thu hút đầu tư cần quan tâm hơn đến khả năng hình thành chuỗi cung ứng tại chỗ, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và hợp tác R&D; qua đó, tăng mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao.
Sau hợp nhất, Thành phố Hồ Chí Minh có thêm không gian, quy mô và sự đa dạng về các nguồn lực phát triển. Song, những lợi thế đó không tự động tạo ra một động lực tăng trưởng mới.
Yêu cầu đặt ra là phải tổ chức lại không gian phát triển, nâng cao năng lực quản trị, kết nối hạ tầng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với cấu trúc kinh tế mới. Đây là những nền tảng để thành phố từng bước chuyển lợi thế về quy mô thành năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng cao hơn.