Những nghệ nhân “giữ lửa” Trung thu

Những nghệ nhân hầu hết đã lớn tuổi nhưng vẫn trăn trở về công việc làm đồ chơi truyền thống. Mỗi năm một lần được đi trình diễn khắp nơi, được sống trong không khí tưng bừng của lễ hội nhưng thời gian còn lại họ trở về với mưu sinh hoặc cuộc sống thường ngày. 
Nghệ nhân Nguyễn Văn Quyền tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam năm 2012.
Nghệ nhân Nguyễn Văn Quyền tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam năm 2012.

Người làm con giống bột cuối cùng ở Đồng Xuân

Nghệ nhân Phạm Nguyệt Ánh năm nay đã 75 tuổi, thuở nhỏ gia đình bà sống ở phố Đồng Xuân, chuyên nhận bán con giống bột cho những người thợ nặn bột từ nhiều nơi đem đến. Bà kể, hồi đó cả gia đình chỉ làm đầu mối bán, không học nghề mà cũng không thợ nặn bột nào nhận dạy vì sợ mất nghề, mất mối làm ăn. Hình ảnh những con giống, mâm ngũ quả đủ màu in sâu vào tâm trí bà từ hồi đó. Sau này lớn lên và trưởng thành, đất nước trải qua nhiều thay đổi, nhu cầu của người tiêu dùng cũng thay đổi, mặt hàng con giống bột không còn được quan tâm nhiều như trước nữa, người gửi hàng bán cũng thưa vắng dần.

Bà kể lại: “Hồi đó thỉnh thoảng lại có người đến nhà tôi hỏi con giống bột mà không có. Nhớ và tiếc, bố tôi đã mày mò tự tìm cách làm lấy. Thời gian đó tôi cũng đi làm công nhân chứ chưa để ý nhiều đến công việc này. Chính bố tôi đã khơi gợi cho tôi sự tò mò và cảm hứng đối với việc nặn con giống bột”.

Nghệ nhân Phạm Nguyệt Ánh tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam năm 2010.

Nghệ nhân Phạm Nguyệt Ánh tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam năm 2010.

Năm 1985, bà Ánh bắt tay vào làm nghề. Vừa tự làm tự mày mò điều chỉnh từ cách pha bột tỷ lệ thế nào, trộn màu ra sau, từ những loại màu gì. “Màu thực phẩm hồi đó chỉ có một số loại cơ bản, muốn có màu đẹp và phong phú thì phải tự pha” – bà nói. Cách tạo hình các loại trái cây cũng là do bà tự tìm hiểu, sáng tạo. “Hồi trước, muốn làm quả na, tôi cứ phải ngồi vạch từng cái mắt. Sau này tình cờ một quả na bị rơi vào mắt lưới của chiếc túi giặt, in thành đúng hình mắt na đều tăm tắp. Từ đó tôi đã thử với các loại mắt lưới và tìm ra cách tạo hình phù hợp với từng cỡ quả” – bà kể.

Nghệ nhân Phạm Nguyệt Ánh 12 năm sau, tại Bảo tàng trong chương trình Trung thu 2022.

Nghệ nhân Phạm Nguyệt Ánh 12 năm sau, tại Bảo tàng trong chương trình Trung thu 2022.

Mỗi năm vào mùa Trung thu, người đi chợ Hàng Mã lại thấy chiếc mẹt nhỏ bày đầy ắp những con giống bột đủ màu sắc, nằm khiêm tốn giữa những xanh đỏ nhấp nháy của đồ chơi nước ngoài. Bà kiên trì giới thiệu đến từng khách hàng, kể cho họ nghe những câu chuyện của con giống bột. Từ năm 2006, bà trở thành khách mời thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hướng dẫn cho hàng nghìn lượt trẻ nhỏ “nghịch bột” bằng sự kiên trì và khéo léo của mình. Năm 2010 bà đã được mời sang Hàn Quốc để trình diễn và giới thiệu về đồ chơi bột.

Chủ nhân của “phép lạ sau tán giấy”

Khi đốt nến trong chiếc đèn kéo quân, đĩa đèn chuyển động kéo theo những hình anh học trò vinh quy bái tổ, chú mục đồng chăn trâu thổi sáo, bác nông dân gặt lúa, các con vật… xoay vòng tròn bên trong tán đèn, như một sân khấu kỳ diệu lung linh ánh sáng. Người làm nên “phép lạ” này là nghệ nhân Nguyễn Văn Quyền, năm nay đã 85 tuổi (thôn Đàn Viên, xã Cao Viên, huyện Thanh Oai, Hà Nội), có nghề làm đồ chơi dân gian như đèn lồng cổ, diều sáo… hàng chục năm nay.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Quyền bên một chiếc đèn đã hoàn thành.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Quyền bên một chiếc đèn đã hoàn thành.

Vốn say mê những món đồ chơi sáng tạo từ thuở bé, ông Nguyễn Văn Quyền đã học cách làm đủ loại đồ chơi chuyển động, từ con rối tre, rối đu xà đơn cho đến điện thoại ống tre. Đặc biệt là đèn kéo quân, một loại đồ chơi “nhà giàu” có từ thời các cụ. Ông Quyền bảo, làm đèn không khó, yêu cầu cao nhất là độ chính xác của các que tre để khi đốt nến, luồng khí bay lên có thể làm chuyển động trục quay và khiến cho các hình ảnh chạy theo. Đèn kéo quân trong trí nhớ của ông là món đồ chơi chỉ dành cho con nhà giàu, chỉ nhà “có của” mới chơi đèn. Cây đèn mang theo bao mong muốn, ước nguyện của con người: mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa, con cái học hành thành tài…

Xã hội ngày càng hiện đại, cây đèn kéo quân cũng bị lãng quên bởi rất nhiều trò giải trí và đồ chơi hiện đại khác. Nhưng ông Quyền vẫn giữ nghề, vừa để cho con cháu biết đến món đồ chơi thú vị của cha ông, vừa để thỏa mãn niềm vui được ngắm những hình trang trí chạy vòng vòng quanh ánh sáng của ngọn nến.

Đã 20 năm nay, ông Quyền là khách mời quen thuộc của Bảo tàng Dân tộc học. Mỗi kỳ Trung thu, dù đã cao tuổi, lại ở xa, nhưng ông vẫn chăm chỉ có mặt tại Bảo tàng, ngồi cặm cụi vót những nan tre, hướng dẫn bọn trẻ bôi hồ, phất giấy để sau đó sung sướng ngắm nhìn những gương mặt trẻ nhỏ mê mẩn trước những hình voi, ngựa chạy quanh chiếc đèn như một điều kỳ diệu.

Sản phẩm đèn kéo quân, diều sáo của ông đã được lựa chọn trưng bày tại Trung tâm triển lãm Vân Hồ. Ông đã khôi phục đèn lồng cổ theo hình vẽ trong cuốn Kỹ thuật của người An Nam và có 10 đèn lồng cổ hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội.

Ông được Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Hà Nội, Hoàng thành Thăng Long, Trung tâm triển lãm Vân Hồ, Phố cổ Hà Nội… trao tặng nhiều giấy chứng nhận, giấy khen về thành tích bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.

Người cuối cùng làm mặt nạ giấy bồi của Hà Nội

Ông Nguyễn Văn Hòa, 68 tuổi (phố Hàng Than, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) được mệnh danh là “người cuối cùng làm mặt nạ giấy bồi ở phố cổ Hà Nội”, với hơn 40 năm gắn bó cùng món đồ chơi Trung thu này.

Làm mặt nạ giấy bồi mất nhiều công sức, phải có khuôn ép, mỗi năm lại phải nghĩ ra những mẫu mặt nạ mới để hấp dẫn trẻ con. Nguyên liệu đơn giản gồm giấy, hồ và màu vẽ, nhưng phải làm kỹ, ép kỹ thì mặt nạ mới chắc. Hồ dán được quấy bằng bột sắn dây, thành chất kết dính tự nhiên, rất chắc và quyện với giấy. Mặt nạ ép khuôn xong phải phơi tự nhiên, nếu sấy sẽ bị cong vênh, mất hết dáng ban đầu. Mặt nạ phơi khô hoàn toàn mới đem vẽ từng lớp một, lớp này khô mới vẽ sang lớp tiếp theo. Mất nhiều công sức như vậy, nhưng mặt nạ giấy bồi hiện đang bị cạnh tranh mạnh bởi những loại mặt nạ nhựa rẻ tiền nhập hàng loạt trên thị trường. Nhưng ông Hòa vẫn không bỏ nghề, bởi những chiếc mặt nạ ông làm ra có nét đẹp riêng, có cá tính, không hôi mùi nhựa nên vẫn có những người yêu thích, tìm đến tận nhà ông để mua.

Ông Nguyễn Văn Hòa cũng là một trong những nghệ nhân đầu tiên tham gia chương trình Trung thu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Từ những chương trình này, mặt nạ của ông được biết đến rộng rãi hơn. Khu trải nghiệm vẽ mặt nạ của ông Hòa lúc nào cũng đầy ắp trẻ nhỏ, có hôm còn không đủ chỗ. Ngoài ra, ông Hòa cũng được mời tham gia nhiều chương trình Trung thu do các đơn vị khác tổ chức.

Người “thắp sáng” ước mơ của trẻ nhỏ

Bà Nguyễn Thị Tuyết (thôn Hậu Ái, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội) là gương mặt quen thuộc của nhiều chương trình Trung thu. Giờ đây bà nổi tiếng đến mức Trung thu năm nào cũng được báo chí, truyền thông nhắc đến. Các loại đồ chơi của bà rất phong phú, nổi bật nhất là đèn ông sao, ngoài ra còn có đèn cá, đèn tôm, đèn con thỏ, ông tiến sĩ giấy, ông đánh gậy. Nghề làm đèn đã đi theo bà Tuyết từ thủa ấu thơ, khi ngôi làng nhỏ của bà cứ vào mùa Trung thu là rộn rã xe ra xe vào chở nguyên liệu đến, chở sản phẩm đi. Nghề làm không khó, nguyên liệu cũng không khó kiếm, quan trọng là khi làm khung phải gắn cho kỹ, nếu không thì trẻ nhỏ chỉ cầm chơi một lúc là rơi hết que, cờ…

Nghệ nhân Nguyễn Thị Tuyết đang phất giấy bóng kính cho một chiếc đèn cá trong sự kiện Trung thu tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Tuyết đang phất giấy bóng kính cho một chiếc đèn cá trong sự kiện Trung thu tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Một thời gian khi nền kinh tế mới mở cửa, những loại đồ chơi nhập khẩu cũng khiến những chiếc đèn thủ công của thôn Hậu Ái chìm vào quên lãng. Năm 2002 bà được Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam mời tham gia hướng dẫn làm đồ chơi cho trẻ em, và từ đó đã hiểu được tầm quan trọng của việc duy trì nghề. Cũng từ những chương trình Trung thu này ở Bảo tàng, những món đồ chơi dân gian của bà Tuyết cũng được nhiều người biết đến hơn. Bà Tuyết cũng được nhiều nơi mời đến hướng dẫn về đồ chơi dân gian cho trẻ em như: nhà Di sản phố cổ, Ban quản lý phố cổ Hà Nội, Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Trung tâm triển lãm Vân Hồ…

Mỗi mùa Trung thu qua đi, chúng ta có thể tìm thấy những nghệ nhân như thế này ở những nơi tổ chức chương trình, sự kiện, cùng nhiều nghệ nhân khác. Nhưng hết mùa, cũng như những chiếc đèn ông sao, đầu sư tử, mặt nạ khi Rằm tháng Tám đã đi qua, họ lại trở về với cuộc sống, và không phải ai cũng nhớ đến. Mỗi mùa Trung thu, lại có người còn, người mất. Cụ Nguyễn Văn Xuân, người làm đèn ông sư “chuẩn” cuối cùng ở Hà Nội đã qua đời, nỗi niềm đau đáu không truyền nghề được cho ai vẫn đi theo cụ cho đến cuối đời. Anh Nguyễn Mạnh Hùng, cũng là người cuối cùng làm tàu thủy sắt tây, cũng mới qua đời đầu năm nay. Những chiếc tàu thủy của anh có còn được tiếp nối không, đó vẫn còn là câu hỏi chưa có lời đáp.

Có thể bạn quan tâm

Tháng Sáu hằng năm, Thành phố Đà Nẵng luôn thu hút đông khách du lịch với biển xanh, cát trắng, nắng vàng và những sự kiện lễ hội sôi động. (Ảnh: ANH ĐÀO)

Tháng Sáu mùa lễ hội, Đà Nẵng như cánh buồm căng gió chờ ra khơi

Đà Nẵng tháng Sáu này lộng lẫy trong cái nắng vàng mật bên bờ biển Mỹ Khê xanh ngắt. Thành phố đầu biển cuối sông đang vào mùa lễ hội đẹp nhất năm của Lễ hội Pháo hoa quốc tế (DIFF), của Liên hoan phim châu Á-Đà Nẵng trong không khí World Cup 2026 sôi động. Tất cả hội tụ một điểm đến trên hành trình ra khơi, bước vào biển lớn.

Các đại biểu và khán giả xúc động hòa mình cùng lời ca, giai điệu trong chương trình.

Thanh Hóa: Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Bác Hồ - Hai tiếng thiêng liêng” - Kỷ niệm 115 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

Với các tiết mục đặc sắc, được dàn dựng công phu, chương trình nghệ thuật đặc biệt “Bác Hồ - Hai tiếng thiêng liêng” tại Thanh Hóa đã mang đến cho khán giả những cảm xúc sâu lắng về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng.

Nam tài tử Ji Chang-wook. (Ảnh: VFDA)

Diễn viên Ji Chang-wook sẽ có mặt tại Liên hoan phim châu Á- Đà Nẵng lần IV

Nam diễn viên Hàn Quốc nổi tiếng Ji Chang-wook sẽ góp mặt tại Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng 2026, diễn ra từ ngày 28/6 đến 4/7. Sự xuất hiện của ngôi sao Hàn Quốc được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những điểm nhấn nổi bật của Liên hoan phim năm nay, thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả và giới yêu điện ảnh.

Ê-kíp làm phim giao lưu cùng khán giả trong buổi công chiếu ra mắt. (Ảnh: ĐOÀN PHIM CUNG CẤP)

Ứng dụng công nghệ CGI và AI trong “Mesdames Thanh Sắc”

Trước khi chính thức khởi chiếu toàn quốc từ 19/6/2026, phim điện ảnh “Mesdames Thanh Sắc” vừa có buổi công chiếu ra mắt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh sự góp mặt của dàn diễn viên thực lực, phim còn gây ấn tượng bởi sự đầu tư mạnh tay cho hình ảnh, với việc ứng dụng công nghệ để tái hiện bối cảnh Sài Gòn những năm 1960.

Khán giả xem Chương trình nghệ thuật “Bác Hồ - Hai tiếng thiêng liêng” tại Hà Tĩnh.

Chương trình nghệ thuật “Bác Hồ - Hai tiếng thiêng liêng” được đông đảo khán giả đón nhận tại Hà Tĩnh

Chương trình nghệ thuật “Bác Hồ - Hai tiếng thiêng liêng” đã đưa khán giả trải qua nhiều cung bậc cảm xúc, từ những giai điệu đi cùng năm tháng “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân”, “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”, “Người về thăm quê”, “Trông cây lại nhớ đến Người” đến không gian lắng đọng qua tiết mục ngâm thơ “Bác ơi”…

Nghệ nhân làng tranh Đông Hồ chia sẻ về quy trình, kỹ thuật in tranh tại chương trình “Hồn trên giấy mộc”. (Ảnh: HỌA KÝ ĐÔNG HỒ)

Nối dài sức sống tranh Đông Hồ

Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, tranh dân gian Đông Hồ từng có thời kỳ phát triển rực rỡ, nhưng lại đang đối diện nguy cơ mai một trong dòng chảy cuộc sống hiện đại. Để tiếp thêm sinh lực cho dòng tranh này, nhiều dự án sáng tạo đã được triển khai, mang đến những cách tiếp cận mới vừa sinh động, vừa gần gũi.

Bên dòng Đà giang ở xã Tủa Thàng (tỉnh Điện Biên), bao đời nay cuộc sống của người dân tộc Dao cứ nối tiếp trong lặng lẽ yên bình. (Ảnh: TIỂU DŨNG)

Bình yên giữa đại ngàn Tây Bắc

Tại xã Tủa Thàng (tỉnh Điện Biên) có bốn thôn có đồng bào dân tộc Dao sinh sống. Trong đó Nậm Bành, Huổi Lóng là hai thôn của người Dao ở bên dòng Đà giang thơ mộng - nơi nhịp sống là một vòng tuần hoàn yên bình giữa đại ngàn Tây Bắc.

Toàn cảnh hội thảo khoa học quốc tế.

Hội thảo khoa học quốc tế "Sưu tập tư liệu ảnh EFEO - Tiềm năng di sản”

Trong thế kỷ XX, ảnh EFEO được sử dụng cho công tác khảo cổ học, bảo tồn di sản, biên soạn tư liệu, nghiên cứu dân tộc học và kiến trúc học như nguồn tư liệu đối chứng quan trọng. Trên phạm vi rộng hơn, bộ tư liệu ảnh EFEO còn góp phần hình thành nền tảng tri thức phục vụ các hồ sơ đề cử di sản thế giới tại Việt Nam về sau.

Công chúng thưởng thức các tác phẩm tại triển lãm "Sắc hợp". (Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)

Cuộc đối thoại nghệ thuật trong "Sắc hợp"

"Sắc hợp" không chỉ là một buổi triển lãm nghệ thuật đơn thuần. Đó còn là cuộc hội ngộ của những người tâm hồn yêu hội họa. 55 tác phẩm được trưng bày với đa dạng chất liệu, thể hiện cá tính sáng tạo đầy màu sắc, phản ánh những góc nhìn đa chiều về đời sống và thế giới nội tâm của người nghệ sĩ.

Nghệ nhân Ưu tú Đặng Ngọc Anh trong một buổi thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.

Mối nhân duyên và hành trình gắn kết di sản của một nghệ nhân

“Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ” được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại có thể được hiểu như một “bảo tàng sống” lưu giữ các giá trị nhân văn sâu sắc. Trong dòng chảy ấy, Nghệ nhân Ưu tú Đặng Ngọc Anh đã có một hành trình 40 năm bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị di sản.