Nhiệt điện Quảng Trạch I: "Điểm tựa" an ninh năng lượng và lời giải cho bài toán chuyển đổi xanh

Với công nghệ siêu tới hạn tiên tiến và định hướng chuyển đổi xanh rõ ràng, Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I được ví như "cột sống" của hệ thống điện miền trung đang khẳng định lời giải thuyết phục cho bài toán kép: Vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, vừa kiên định thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050

Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I đang hoàn thiện các công đoạn cuối để đưa vào vận hành. Ảnh EVN
Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I đang hoàn thiện các công đoạn cuối để đưa vào vận hành. Ảnh EVN

"Cột sống" của hệ thống điện

Câu chuyện về Quảng Trạch I cần được đặt trong bối cảnh rộng lớn hơn của bức tranh kinh tế-xã hội năm 2025. Sau sự kiện sáp nhập địa giới hành chính ngày 1/7/2025, tỉnh Quảng Trị (mới) đã vươn mình trở thành một cực tăng trưởng công nghiệp trọng điểm của khu vực Bắc Trung Bộ. Sự mở rộng của các khu kinh tế, cảng biển và chuỗi đô thị ven biển và sự hồi phục mạnh mẽ của du lịch đã kéo theo nhu cầu tiêu thụ điện năng tăng vọt, ước tính khoảng 12-15%/năm.

Thực tiễn đáng buồn của mùa khô năm 2023 – khi miền bắc thiếu điện cục bộ, buộc phải huy động dầu chạy máy phát điện với giá thành đắt gấp 4-5 lần than – đã để lại bài học đắt giá về an ninh năng lượng: Một hệ thống điện khỏe mạnh không thể chỉ dựa vào "ý trời" (nắng và gió).

Tại sao chúng ta vẫn cần nhiệt điện than khi năng lượng tái tạo đang bùng nổ? Câu trả lời nằm ở khái niệm kỹ thuật: "Quán tính hệ thống" (System Inertia).

Điện gió và mặt trời, dù sạch, nhưng lại thiếu tính ổn định và không có quán tính quay để giữ vững tần số 50Hz khi lưới điện gặp sự cố. Lúc này, Quảng Trạch I với các tổ máy tuabin khổng lồ nặng hàng trăm tấn, quay ổn định 3.000 vòng/phút, chính là "bộ đệm" vật lý, là "cột sống" giữ cho hệ thống điện miền trung không bị rã lưới trước những biến động thất thường của thời tiết.

Với tổng công suất 1.403MW, khi đi vào vận hành hoàn chỉnh, nhà máy sẽ cung cấp khoảng 8,4-9 tỷ kWh mỗi năm. Con số này tương đương với tổng lượng điện tiêu thụ của hàng triệu hộ gia đình, đóng vai trò nguồn điện chạy nền (baseload) quan trọng, giảm tải áp lực truyền tải trên đường dây 500kV bắc-nam.

Đặc biệt, dự án này còn mang ý nghĩa lớn đối trong việc tạo động lực phát triển cho tỉnh Quảng Trị sau hợp nhất. Dự kiến, nhà máy sẽ đóng góp vào ngân sách địa phương khoảng 1.200 tỷ đồng/năm. Đây là nguồn lực tài chính khổng lồ để chính quyền tỉnh đầu tư hoàn thiện hạ tầng, an sinh xã hội, tạo đà cho sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền trong đơn vị hành chính mới.

Công nghệ "Siêu tới hạn" và cam kết môi trường

Một trong những tranh luận lớn nhất xoay quanh dự án này là vấn đề môi trường. Liệu vận hành một nhà máy than mới có đi ngược lại cam kết Net Zero của Thủ tướng Chính phủ tại COP26?

Để trả lời, cần nhìn sâu vào "trái tim" công nghệ của nhà máy. Quảng Trạch I là dự án tiên phong áp dụng công nghệ Siêu tới hạn (Ultra-Supercritical - USC) ở mức độ hoàn thiện cao nhất. Lò hơi vận hành ở nhiệt độ 600-610°C và áp suất 269 bar, giúp hiệu suất chuyển đổi nhiệt-điện lên tới 45-47%, giảm thiểu đáng kể lượng than tiêu thụ. Nhờ đốt cháy kiệt than, nhà máy chỉ tiêu tốn khoảng 280g than cho 1kWh điện (thấp hơn nhiều so mức 350g của các nhà máy cũ). Điều này đồng nghĩa với việc giảm hàng triệu tấn than nhập khẩu mỗi năm.

Tuy nhiên, mối quan tâm lớn nhất của dư luận vẫn là vấn đề khí thải. Trả lời về vấn đề này, ông Đỗ Thành Tài – Giám đốc Ban Quản lý Dự án Điện 2 (EVNPMB2) khẳng định: "Các yêu cầu về môi trường hiện nay ngày càng nghiêm ngặt. Với công nghệ trên siêu tới hạn, bản thân dây chuyền đã đòi hỏi tiêu chuẩn rất cao".

thiet-ke-chua-co-ten.png
Ông Đỗ Thành Tài – Giám đốc Ban Quản lý Dự án Điện 2 (EVNPMB2).

Ông Tài cho biết thêm, hệ thống xử lý khí thải của nhà máy được trang bị đầy đủ công nghệ khử lưu huỳnh (SOx), khử Nitơ (NOx) và lọc bụi, bảo đảm thông số phát thải luôn tuân thủ quy chuẩn. "Vừa qua, chúng tôi cũng đã mời lãnh đạo tỉnh và các sở ban ngành đi tham quan thực tế tại các nhà máy như Vĩnh Tân 4, Thái Bình. Qua đó, địa phương đã trực tiếp kiểm chứng và đánh giá cao công nghệ xử lý môi trường, xóa bỏ những quan ngại về tác động của nhà máy nhiệt điện" - ông Tài chia sẻ.

Bản lĩnh người thợ Việt: Từ làm thuê sang làm chủ

Tại Quảng Trạch I, niềm tự hào không chỉ nằm ở máy móc nhập ngoại mà còn ở sự trưởng thành của đội ngũ kỹ sư Việt Nam. Đánh giá về năng lực nội địa, ông Đỗ Thành Tài nhấn mạnh: "Tại dự án Nhiệt điện Quảng Trạch 1, các hạng mục thi công cơ khí quan trọng như kết cấu lò hơi, tua-bin, hệ thống bồn bể... đều do các đơn vị trong nước đảm nhận".

thi-cong.jpg
Các chuyên gia nước ngoài ký kiểm tra công việc thi công. Ảnh: Tuấn Sơn

Đặc biệt, ông Tài chỉ ra một bước tiến lịch sử: "Tại dự án này, Tổng công ty Xây dựng Số 1 (CC1) tham gia với tư cách thành viên Liên danh tổng thầu. Đây là một trong những dự án nhiệt điện đầu tiên có đơn vị Việt Nam tham gia trực tiếp trong vai trò tổng thầu EPC".

Để làm chủ công nghệ USC tiên tiến, bài toán nhân lực cũng được giải quyết bài bản. "Quá trình 'vừa học vừa làm' này giúp đội ngũ kỹ sư nắm bắt công nghệ ngay từ khâu lắp dựng,"ông Tài cho biết. Lực lượng nhân sự đã được cử đi đào tạo thực tế tại Vĩnh Tân 4, Nghi Sơn và quay về trực tiếp giám sát lắp đặt, bảo đảm khi nhận bàn giao sẽ đủ năng lực vận hành an toàn.

Tương lai không phải là ngõ cụt

Trước lo ngại điện than sẽ trở thành "gánh nặng" trong kỷ nguyên xanh, lãnh đạo EVNPMB2 đã đưa ra một lộ trình chuyển đổi rõ ràng cho Trung tâm Điện lực Quảng Trạch.

Thứ nhất, về sự phát triển tiếp nối, ông Tài tiết lộ: "Ngoài Nhiệt điện Quảng Trạch 1 (chạy than), EVN đang đầu tư hai dự án điện khí là Quảng Trạch 2 (dự kiến khởi công 2025) và Quảng Trạch 3 (vừa được chấp thuận chủ trương đầu tư, dự kiến khởi công 2026). Công nghệ LNG của hai nhà máy này là công nghệ sạch, thân thiện môi trường".

Thứ hai, đối với chính nhà máy Quảng Trạch 1, việc "khai tử" vào năm 2050 không phải là kịch bản duy nhất. "Riêng đối với Quảng Trạch 1, sau năm 2050, chúng tôi sẽ có lộ trình chuyển đổi nhiên liệu phù hợp (như đốt kèm sinh khối hoặc Amoniac) để tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có mà vẫn bảo đảm mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero)", ông Đỗ Thành Tài khẳng định.

Kiên định mục tiêu phát triển bền vững

Nghị quyết 55-NQ/TW của Bộ Chính trị đã định hướng rõ: "Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hoá các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch".

Trường hợp của Nhiệt điện Quảng Trạch I là minh chứng sống động cho tư duy phát triển năng lượng "Đi bằng hai chân": Vừa bảo đảm an ninh năng lượng trước mắt bằng nguồn điện nền tảng công nghệ cao, vừa kiên định chuẩn bị hạ tầng cho quá trình chuyển đổi xanh lâu dài.

Khi dòng điện từ Tổ máy 1 hòa vào lưới điện quốc gia trong tháng 12 này, đó sẽ là tin vui lớn cho tỉnh Quảng Trị trong năm đầu tiên sau sáp nhập. Nhưng lớn hơn cả, đó là sự khẳng định bản lĩnh Việt Nam: Chúng ta không đánh đổi môi trường lấy kinh tế, nhưng cũng không để đất nước thiếu điện vì những mục tiêu xa rời thực tế.

“Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch 1 nằm trong Trung tâm Điện lực Quảng Trạch, được khởi công xây dựng ngày 13/12/2021 tại Xã Quảng Đông, tỉnh Quảng Trị (khu vực phía bắc tỉnh sau sáp nhập). Công trình dự kiến đóng góp ngân sách 1.200 tỷ đồng/năm sau đi vào vận hành. Công trình được sử dụng công nghệ siêu tới hạn hiện đại. Lộ trình phát triển của Trung tâm Điện lực Quảng Trạch là các dự án LNG (Quảng Trạch 2, 3) và chuyển đổi nhiên liệu đốt kèm cho Quảng Trạch 1 sau năm 2030".

Có thể bạn quan tâm

Dây chuyền chế biến gạo của Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam (Vinarice). (Ảnh: ĐỨC AN)

Gỡ “nút thắt”, gia tăng lợi ích từ lúa phát thải thấp

Giai đoạn 2026-2030, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục mở rộng quy mô. Tuy nhiên, để Đề án mang lại hiệu quả kinh tế thực chất cho nông dân, cần sớm tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.

Giảng viên và sinh viên Trường đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh bên bức tường bê-tông gai dầu.

Hướng đi mới cho ngành vật liệu xây dựng

Quá trình đô thị hóa với tốc độ cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kéo theo nhu cầu rất lớn về vật liệu xây dựng. Trong khi các tài nguyên truyền thống như cát, đá chịu nhiều sức ép về sản lượng khai thác, thì hàng trăm nghìn tấn chất thải xây dựng mỗi ngày vẫn phải xử lý bằng cách san lấp, đổ bỏ.

Mô hình du lịch thích ứng thời tiết tại Tân Hóa, Quảng Trị là thí dụ tiêu biểu cho việc phát triển du lịch gắn với nâng cao khả năng chống chịu trước các thách thức môi trường. (Ảnh: TTXVN)

Thúc đẩy xây dựng mô hình du lịch xanh tuần hoàn

Du lịch tuần hoàn không dừng lại ở việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Xu thế mới này đòi hỏi tiến tới du lịch tái tạo, nơi mỗi hành trình của du khách đều để lại tác động tích cực, góp phần phục hồi tài nguyên, bảo tồn văn hóa, nâng cao năng lực chống chịu của cộng đồng và hiện thực hóa mục tiêu Net Zero toàn cầu.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.

Dốc Thẩm Mã luôn thu hút hành trình của mọi du khách đến thăm Tuyên Quang. (Ảnh: BẢO LONG)

Du lịch Việt Nam trên hành trình “xanh hóa”

Nếu trước đây, du lịch xanh chủ yếu được nhắc đến như một lựa chọn mang tính xu hướng, thì nay, nhiều địa phương, điểm đến, doanh nghiệp du lịch đã xác định đây là yêu cầu tự thân để tồn tại và nâng cao năng lực cạnh tranh. Điều này khiến hành trình “xanh hóa” du lịch Việt Nam ngày càng diễn ra mạnh mẽ và đi vào thực chất.

Thành phố Hồ Chí Minh đặt lộ trình cụ thể đến năm 2030 đưa vào hoạt động phương tiện công cộng thân thiện với môi trường (Ảnh: THẾ ANH)

Chuyển đổi xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi phát triển với yêu cầu tăng trưởng không chỉ nhanh mà còn phải gắn với chất lượng môi trường và tính bền vững. Trong đó, chuyển đổi xanh là một trong những vấn đề quan trọng để tiếp tục khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế cả nước.

Tổng công ty Phát điện 1 làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, chủ động đề xuất đầu tư các dự án điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện tại địa phương.

Tổng công ty Phát điện 1 đề xuất đầu tư 3 dự án điện mặt trời nổi tại Lâm Đồng

Với định hướng phát triển năng lượng tái tạo, tại cuộc làm việc tại tỉnh Lâm Đồng mới đây, Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) đã đề xuất đầu tư 3 dự án điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện đang hoạt động tại địa phương với tổng công suất gần 270MW, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 4.400 tỷ đồng. 

Dự án góp phần hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ trong chuyển đổi xanh. (Ảnh: CTV)

Hỗ trợ tối đa 1,8 tỷ đồng cho các sáng kiến về chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt

Từ nay đến hết ngày 12/6/2026, mỗi sáng kiến góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm tử tế và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với điều kiện địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được nhận hồ sơ xét tài trợ đợt hai.

Hà Nội áp dụng thí điểm vùng phát thải thấp ở trung tâm Hà Nội từ ngày 1/7/2026.

Người dân tích cực hưởng ứng thí điểm vùng phát thải thấp ở trung tâm Hà Nội

Từ ngày 1/7/2026, Hà Nội sẽ bắt đầu thí điểm vùng phát thải thấp tại một số tuyến phố thuộc phường Hoàn Kiếm. Ngay trước thời điểm triển khai, ghi nhận cho thấy đông đảo người dân đã chủ động điều chỉnh thói quen đi lại, thể hiện sự đồng tình với chủ trương và bước đầu chuyển từ nhận thức sang hành động.

Để đạt được các cam kết khí hậu, chuyển dịch năng lượng xanh trên toàn diện các lĩnh vực, đặc biệt là khối doanh nghiệp sản xuất, không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc.

Thúc đẩy chuyển đổi số cùng chuyển đổi xanh nhằm bảo đảm phát triển bền vững

Trong dòng chảy chuyển dịch năng lượng toàn cầu, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn bản lề, nơi bài toán tăng trưởng không còn tách rời khỏi yêu cầu phát triển bền vững. Cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đã và đang trở thành áp lực chuyển đổi thật sự đối với nền kinh tế, đặc biệt là khu vực sản xuất công nghiệp.