Công bố Báo cáo và khuyến nghị chính sách hướng tới nông nghiệp bền vững

Báo cáo và khuyến nghị chính sách “Hướng tới nông nghiệp bền vững: Thực hành khung môi trường-xã hội-quản trị (ESG) và tiếp cận tài chính bền vững của các tác nhân nhỏ và vừa trong chuỗi giá trị nông nghiệp” ra đời nhằm cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng ESG trong nông nghiệp Việt Nam.

Đông đảo đại biểu đến từ đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính, doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã, hiệp hội ngành hàng, viện nghiên cứu, tổ chức phát triển, chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và tài chính xanh cùng các cơ quan báo chí, truyền thông đã tham dự sự kiện. (Ảnh: HNV)
Đông đảo đại biểu đến từ đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính, doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã, hiệp hội ngành hàng, viện nghiên cứu, tổ chức phát triển, chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và tài chính xanh cùng các cơ quan báo chí, truyền thông đã tham dự sự kiện. (Ảnh: HNV)

Chiều 20/3, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững (MSD) phối hợp Oxfam tại Việt Nam và Fair Finance Asia tổ chức công bố báo cáo khuyến nghị chính sách “Hướng tới nông nghiệp bền vững: Thực hành khung môi trường-xã hội-quản trị (ESG) và tiếp cận tài chính bền vững của các tác nhân nhỏ và vừa trong chuỗi giá trị nông nghiệp”.

Đây là hoạt động trong khuôn khổ Dự án “Thúc đẩy đầu tư và tín dụng xanh cho doanh nghiệp nông nghiệp vì sự phát triển bền vững” (AGREEN).

Trong bối cảnh ESG (môi trường-xã hội-quản trị) không còn “xu hướng tự nguyện”, mà đang dần trở thành điều kiện để tham gia và nâng cao năng lực cạnh tranh, báo cáo đã chỉ ra các rào cản lớn nhất trong tiếp cận tài chính bền vững của hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ, đồng thời đề xuất các giải pháp chính sách và cơ chế tài chính thiết thực để thúc đẩy chuyển đổi xanh trong toàn ngành.

Báo cáo được thực hiện thông qua khảo sát 97 doanh nghiệp và hợp tác xã trong chuỗi giá trị nông nghiệp, kết hợp với 15 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia và bên liên quan, nhằm đánh giá thực trạng thực hành ESG và khả năng tiếp cận tài chính bền vững của các tác nhân nhỏ và vừa trong ngành.

Phát biểu khai mạc, bà Nguyễn Phương Linh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững (MSD) chia sẻ: phần lớn doanh nghiệp nông nghiệp đã thực hành ESG, nhưng thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức, mà ở năng lực thực thi và khả năng chuyển hóa các thực hành này thành chuyển đổi hiệu quả và thực chất.

Theo Viện trưởng Nguyễn Phương Linh, cách tiếp cận hệ sinh thái không chỉ dừng lại ở sự tham gia của nhiều bên, mà đòi hỏi sự phối hợp thực chất và đồng bộ giữa các trụ cột chính sách, tài chính, thị trường và năng lực.

Các thành phần này cần được thiết kế để “kết nối và vận hành cùng nhau”, từ đó tạo điều kiện để các tác nhân trong chuỗi giá trị nhất là hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ, có thể tiếp cận thông tin, nguồn lực và cơ hội một cách hiệu quả hơn.

ndo_br_congbo3.jpg
Bà Nguyễn Phương Linh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững (MSD) phát biểu khai mạc.

Bà cũng kỳ vọng báo cáo với những dữ liệu “sống” sẽ không chỉ dừng lại ở cung cấp thông tin, mà góp phần thúc đẩy đối thoại chính sách và các hành động phối hợp cụ thể trong thời gian tới.

Dịp này, thông tin tại sự kiện, bà Nguyễn Thu Hương, Quản lý Chương trình cấp cao của Oxfam tại Việt Nam, nhấn mạnh: “Đây là một nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, phản ánh rõ xu hướng chuyển đổi tất yếu của nông nghiệp theo hướng xanh và bền vững, đồng thời góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Việt Nam.

Báo cáo cũng cho thấy vai trò quan trọng của tài chính như một đòn bẩy để định hướng và thúc đẩy quá trình chuyển đổi này, đặc biệt thông qua các công cụ như tín dụng xanh”.

Bà Nguyễn Thu Hương nhận định, báo cáo đã làm rõ mức độ sẵn sàng thực hành ESG cũng như những khó khăn trong tiếp cận tài chính bền vững của doanh nghiệp, qua đó cung cấp cơ sở quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách và thúc đẩy tài chính xanh trong nông nghiệp.

“Các bên liên quan đều có mong muốn thúc đẩy ESG và tài chính xanh trong nông nghiệp, tuy nhiên vẫn tồn tại những rào cản nhất định. Thông qua báo cáo và thảo luận tại sự kiện, một hướng đi quan trọng được gợi mở là tăng cường kết nối để các bên không chỉ tham gia, mà còn có thể phối hợp hiệu quả với nhau trong quá trình xây dựng và vận hành hệ sinh thái hỗ trợ các tác nhân trong chuỗi giá trị nông nghiệp”, bà Hương nói.

ndo_br_congbo2.jpg
Bà Nguyễn Thu Hương, Quản lý Chương trình cấp cao của Oxfam tại Việt Nam.

Trong khuôn khổ sự kiện, bà Hoàng Thu Trang, đại diện nhóm nghiên cứu đã trình bày những phát hiện chính của báo cáo “Hướng tới nông nghiệp bền vững: Thực hành khung ESG và tiếp cận tài chính bền vững của các tác nhân nhỏ và vừa trong chuỗi giá trị nông nghiệp”.

Theo đó, kết quả khảo sát cho thấy thực hành ESG của các hợp tác xã và doanh nghiệp trong khảo sát không đồng đều giữa các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị.

Trong đó, các yếu tố môi trường và xã hội thường được thực hành nhiều hơn, trong khi các yếu tố quản trị còn hạn chế. Điều này cho thấy thực hành ESG trong nhiều trường hợp vẫn mang tính phản ứng trước yêu cầu của thị trường hoặc chính sách, thay vì xuất phát từ chiến lược phát triển nội tại của doanh nghiệp. Khoảng trống nhận thức-năng lực-giá trị cần được thu hẹp.

Về tiếp cận tài chính bền vững, một trong những phát hiện quan trọng của báo cáo là: Tài chính xanh vẫn chưa tiếp cận được nhóm tác nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất - hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ.

Khảo sát trên 97 hợp tác xã và doanh nghiệp cho thấy, dù 54% đơn vị đã tham gia ít nhất một chứng nhận nông nghiệp bền vững, nhưng chỉ có duy nhất 1 đơn vị tiếp cận được nguồn tài chính xanh.

Nguồn vốn mà các tác nhân nhỏ đang sử dụng chủ yếu vẫn đến từ tín dụng truyền thống (57%) và vay từ người thân (55%), phản ánh khoảng cách lớn giữa thực hành bền vững và khả năng tiếp cận tài chính phù hợp.

Báo cáo cũng chỉ ra rằng rào cản không nằm ở việc thiếu thực hành ESG mà chủ yếu đến từ các điều kiện tín dụng truyền thống như yêu cầu tài sản bảo đảm, năng lực xây dựng phương án kinh doanh và hệ thống quản trị của doanh nghiệp.

Đồng thời, khoảng 80% đơn vị cho biết chưa từng tiếp cận thông tin về tín dụng xanh, cho thấy hạn chế lớn về thông tin và kết nối thị trường tài chính.

Một điểm đáng chú ý khác là dòng vốn tài chính xanh hiện vẫn tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp quy mô lớn hoặc các dự án đã đạt tiêu chuẩn sẵn có, trong khi các hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ, nhóm chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp vẫn đứng ngoài dòng vốn này.

Những phát hiện này cho thấy nhu cầu cấp thiết về việc thiết kế lại các công cụ tài chính, đồng thời tăng cường vai trò trung gian của các tổ chức hỗ trợ nhằm thu hẹp khoảng cách giữa thị trường vốn và các tác nhân nhỏ trong chuỗi giá trị.

Dự tính, trong 1-3 năm tới, nhu cầu về tài chính bền vững trong nông nghiệp sẽ gia tăng, đặc biệt cho các hoạt động như canh tác bền vững, kinh tế tuần hoàn và đáp ứng các tiêu chuẩn, chứng nhận nông nghiệp.

Điều này đặt ra yêu cầu cần rà soát và tháo gỡ các nút thắt trong tiếp cận vốn, nhằm bảo đảm các chính sách tín dụng xanh và tín dụng nông nghiệp, nông thôn được triển khai hiệu quả trong thực tế.

Việc thiết kế các công cụ tài chính phù hợp với đặc thù của hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhóm chiếm tỷ trọng lớn trong ngành sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thực hành ESG theo hướng dài hạn và thực chất hơn.

Có thể bạn quan tâm

Dây chuyền chế biến gạo của Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam (Vinarice). (Ảnh: ĐỨC AN)

Gỡ “nút thắt”, gia tăng lợi ích từ lúa phát thải thấp

Giai đoạn 2026-2030, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục mở rộng quy mô. Tuy nhiên, để Đề án mang lại hiệu quả kinh tế thực chất cho nông dân, cần sớm tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.

Giảng viên và sinh viên Trường đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh bên bức tường bê-tông gai dầu.

Hướng đi mới cho ngành vật liệu xây dựng

Quá trình đô thị hóa với tốc độ cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kéo theo nhu cầu rất lớn về vật liệu xây dựng. Trong khi các tài nguyên truyền thống như cát, đá chịu nhiều sức ép về sản lượng khai thác, thì hàng trăm nghìn tấn chất thải xây dựng mỗi ngày vẫn phải xử lý bằng cách san lấp, đổ bỏ.

Mô hình du lịch thích ứng thời tiết tại Tân Hóa, Quảng Trị là thí dụ tiêu biểu cho việc phát triển du lịch gắn với nâng cao khả năng chống chịu trước các thách thức môi trường. (Ảnh: TTXVN)

Thúc đẩy xây dựng mô hình du lịch xanh tuần hoàn

Du lịch tuần hoàn không dừng lại ở việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Xu thế mới này đòi hỏi tiến tới du lịch tái tạo, nơi mỗi hành trình của du khách đều để lại tác động tích cực, góp phần phục hồi tài nguyên, bảo tồn văn hóa, nâng cao năng lực chống chịu của cộng đồng và hiện thực hóa mục tiêu Net Zero toàn cầu.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.

Dốc Thẩm Mã luôn thu hút hành trình của mọi du khách đến thăm Tuyên Quang. (Ảnh: BẢO LONG)

Du lịch Việt Nam trên hành trình “xanh hóa”

Nếu trước đây, du lịch xanh chủ yếu được nhắc đến như một lựa chọn mang tính xu hướng, thì nay, nhiều địa phương, điểm đến, doanh nghiệp du lịch đã xác định đây là yêu cầu tự thân để tồn tại và nâng cao năng lực cạnh tranh. Điều này khiến hành trình “xanh hóa” du lịch Việt Nam ngày càng diễn ra mạnh mẽ và đi vào thực chất.

Thành phố Hồ Chí Minh đặt lộ trình cụ thể đến năm 2030 đưa vào hoạt động phương tiện công cộng thân thiện với môi trường (Ảnh: THẾ ANH)

Chuyển đổi xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi phát triển với yêu cầu tăng trưởng không chỉ nhanh mà còn phải gắn với chất lượng môi trường và tính bền vững. Trong đó, chuyển đổi xanh là một trong những vấn đề quan trọng để tiếp tục khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế cả nước.

Tổng công ty Phát điện 1 làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, chủ động đề xuất đầu tư các dự án điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện tại địa phương.

Tổng công ty Phát điện 1 đề xuất đầu tư 3 dự án điện mặt trời nổi tại Lâm Đồng

Với định hướng phát triển năng lượng tái tạo, tại cuộc làm việc tại tỉnh Lâm Đồng mới đây, Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) đã đề xuất đầu tư 3 dự án điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện đang hoạt động tại địa phương với tổng công suất gần 270MW, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 4.400 tỷ đồng. 

Dự án góp phần hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ trong chuyển đổi xanh. (Ảnh: CTV)

Hỗ trợ tối đa 1,8 tỷ đồng cho các sáng kiến về chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt

Từ nay đến hết ngày 12/6/2026, mỗi sáng kiến góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm tử tế và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với điều kiện địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được nhận hồ sơ xét tài trợ đợt hai.

Hà Nội áp dụng thí điểm vùng phát thải thấp ở trung tâm Hà Nội từ ngày 1/7/2026.

Người dân tích cực hưởng ứng thí điểm vùng phát thải thấp ở trung tâm Hà Nội

Từ ngày 1/7/2026, Hà Nội sẽ bắt đầu thí điểm vùng phát thải thấp tại một số tuyến phố thuộc phường Hoàn Kiếm. Ngay trước thời điểm triển khai, ghi nhận cho thấy đông đảo người dân đã chủ động điều chỉnh thói quen đi lại, thể hiện sự đồng tình với chủ trương và bước đầu chuyển từ nhận thức sang hành động.

Để đạt được các cam kết khí hậu, chuyển dịch năng lượng xanh trên toàn diện các lĩnh vực, đặc biệt là khối doanh nghiệp sản xuất, không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc.

Thúc đẩy chuyển đổi số cùng chuyển đổi xanh nhằm bảo đảm phát triển bền vững

Trong dòng chảy chuyển dịch năng lượng toàn cầu, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn bản lề, nơi bài toán tăng trưởng không còn tách rời khỏi yêu cầu phát triển bền vững. Cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đã và đang trở thành áp lực chuyển đổi thật sự đối với nền kinh tế, đặc biệt là khu vực sản xuất công nghiệp.