Thu hút đầu tư vào thị trường carbon rừng

Ứng dụng công nghệ số giúp ngành kiểm lâm Sơn La thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng.
Ứng dụng công nghệ số giúp ngành kiểm lâm Sơn La thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng.

Trong bối cảnh thực hiện giảm phát thải và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, thị trường carbon rừng đang trở thành kênh tài chính xanh quan trọng. Với tiềm năng hấp thụ carbon lớn, Việt Nam có nhiều cơ hội tham gia sâu hơn vào thị trường này. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách và thu hút nguồn lực đầu tư.

Trong chiến lược ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu, rừng ngày càng được nhìn nhận như một “tài sản carbon” có giá trị kinh tế và môi trường đặc biệt. Theo các nghiên cứu quốc tế, hệ sinh thái rừng có khả năng hấp thụ khoảng 7,6 tỷ tấn CO2 mỗi năm, tương đương khoảng 20% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Tuy nhiên, nguồn lực tài chính dành cho bảo vệ và phục hồi rừng hiện vẫn còn rất hạn chế.

Các báo cáo của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc cho thấy, để đáp ứng mục tiêu bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái rừng trên toàn cầu, mức đầu tư hằng năm cần đạt khoảng 300 tỷ USD vào năm 2030 và gần 500 tỷ USD vào năm 2050. Trong bối cảnh đó, thị trường tín chỉ carbon, nhất là tín chỉ carbon rừng, đang trở thành một kênh tài chính xanh đầy tiềm năng. Không chỉ đóng góp cho mục tiêu giảm phát thải, đầu tư vào rừng còn mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng mỗi 1 USD đầu tư vào phục hồi rừng có thể tạo ra tới 30 USD giá trị kinh tế, thông qua các dịch vụ hệ sinh thái như điều tiết nước, bảo vệ đất, bảo tồn đa dạng sinh học và tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương. Đối với Việt Nam, với tỷ lệ che phủ rừng hơn 42% và diện tích rừng tự nhiên lớn, việc tham gia sâu hơn vào thị trường carbon rừng không chỉ giúp huy động nguồn lực cho bảo vệ rừng mà còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế xanh. Những năm gần đây, Việt Nam đã từng bước xây dựng khung pháp lý để tham gia thị trường carbon toàn cầu.

Năm 2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 7/1/2022 về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, trong đó xác định lộ trình hình thành thị trường carbon trong nước, tiến tới vận hành thí điểm sàn giao dịch carbon vào giai đoạn 2025-2027 và vận hành chính thức từ năm 2028. Theo các chuyên gia, lĩnh vực lâm nghiệp có lợi thế lớn trong việc tham gia thị trường này thông qua các dự án hấp thụ và lưu trữ carbon. Một thí dụ thực tế cho thấy tiềm năng của thị trường này là thỏa thuận chuyển nhượng kết quả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ giữa Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB) vào năm 2023.

Theo đó, Việt Nam đã chuyển nhượng khoảng 10,3 triệu tấn CO2 giảm phát thải từ rừng tại sáu tỉnh Bắc Trung Bộ, với tổng giá trị khoảng 51,5 triệu USD. Đây được xem là giao dịch tín chỉ carbon rừng quy mô lớn đầu tiên của Việt Nam trên thị trường quốc tế, mở ra hướng đi mới cho việc khai thác giá trị kinh tế từ tài nguyên rừng.

Theo ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, với việc vận hành chính thức Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris và sự ra đời của Quỹ Rừng Nhiệt đới Vĩnh viễn, thế giới đang chuyển từ tư duy “bù đắp” phát thải sang “đóng góp thực chất” cho quá trình giảm phát thải toàn cầu. Điều này đặt ra tiêu chuẩn mới đối với thị trường carbon, trong đó các tín chỉ carbon, nhất là tín chỉ rừng, phải bảo đảm tính toàn vẹn môi trường, tính bền vững và sự minh bạch.

Việc xây dựng thị trường carbon không chỉ nhằm gia tăng khối lượng giao dịch mà quan trọng hơn là trở thành công cụ thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng phát thải thấp. Mặc dù tiềm năng lớn, việc phát triển các dự án carbon rừng tại Việt Nam vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những khó khăn lớn nhất là rủi ro của các dự án carbon, do thời gian thực hiện dài, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu.

Ngoài ra, các dự án carbon rừng thường có quy mô lớn, liên quan nhiều chủ thể khác nhau, từ cơ quan quản lý nhà nước đến cộng đồng dân cư và doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi cơ chế quản lý minh bạch, đồng thời cần hệ thống đo lường, báo cáo và kiểm chứng phát thải chặt chẽ để bảo đảm tính tin cậy của tín chỉ carbon. Một vấn đề khác là quyền sử dụng đất và quyền hưởng lợi từ rừng, đặc biệt ở các khu vực có sự tham gia của cộng đồng địa phương. Nếu không có cơ chế phân chia lợi ích hợp lý, việc triển khai các dự án carbon rừng sẽ gặp nhiều khó khăn trong thực tế.

Để thúc đẩy thị trường carbon rừng phát triển bền vững, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết cần tiếp tục hoàn thiện khung thể chế và các quy định pháp lý liên quan, bao gồm việc làm rõ cơ chế sở hữu, đăng ký, xác nhận và giao dịch tín chỉ carbon, đồng thời xây dựng hệ thống quản lý, giám sát và minh bạch hóa dữ liệu phát thải. Đa dạng hóa nguồn lực tài chính để mở rộng quy mô các dự án carbon rừng.

Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước, cần đẩy mạnh huy động vốn từ khu vực tư nhân, các quỹ khí hậu và các tổ chức tài chính quốc tế thông qua các công cụ như tín dụng xanh, trái phiếu xanh và cơ chế tài chính carbon. Trong đó, mô hình tài chính kết hợp giữa vốn công và vốn tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc giảm rủi ro ban đầu cho các dự án và thu hút thêm dòng vốn đầu tư.

Ngoài ra cần tăng cường vai trò của các tổ chức tài chính trong hệ sinh thái thị trường carbon. Các ngân hàng, quỹ đầu tư và tổ chức bảo hiểm không chỉ cung cấp nguồn vốn mà còn có thể tham gia thiết kế các sản phẩm tài chính xanh, tư vấn thị trường và hỗ trợ quản lý rủi ro cho các dự án carbon rừng. Sự tham gia sâu hơn của các định chế tài chính sẽ giúp thị trường carbon từng bước vận hành theo cơ chế thị trường và mở rộng quy mô giao dịch.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tiếp cận nguồn vốn khí hậu, công nghệ giám sát carbon và các tiêu chuẩn đo đếm, thẩm định phát thải tiên tiến. Thông qua các chương trình hợp tác và dự án quốc tế, Việt Nam không chỉ có thêm nguồn lực tài chính mà còn nâng cao chất lượng tín chỉ carbon, qua đó tăng khả năng tham gia và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Ngoài ra, việc cải thiện môi trường đầu tư và đơn giản hóa quy trình, thủ tục cũng đóng vai trò quan trọng. Khi các thủ tục phê duyệt dự án, xác nhận kết quả giảm phát thải và đăng ký tín chỉ carbon được thực hiện nhanh chóng, minh bạch, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp sẽ giảm xuống, qua đó khuyến khích nhiều chủ thể tham gia thị trường...

Có thể bạn quan tâm

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chứng khoán ngày 18/3: Khối ngoại bán ròng gần 3.000 tỷ đồng, VN-Index vẫn giữ mốc 1.700 điểm

Phiên giao dịch ngày 18/3, áp lực bán luôn thường trực khiến thị trường chứng khoán Việt Nam rung lắc mạnh trong phiên sáng. Về cuối phiên, dòng tiền nhập cuộc tích cực tại nhóm cổ phiếu dầu khí giúp VN-Index vẫn giữ được sắc xanh khi đóng cửa. Chốt phiên, VN-Index tăng 3,54 điểm (+0,21%), lên mức 1.713,83 điểm.

Hội thảo cấp cao về ODA thế hệ mới “Khoản vay Chương trình cho chuyển đổi xanh hướng tới tăng trưởng xanh và tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu” diễn ra tại Hà Nội sáng 18/3.

Hợp tác Việt-Nhật hướng tới tăng trưởng xanh và tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu

Ngày 18/3, tại Hà Nội, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) - Văn phòng tại Việt Nam phối hợp Bộ Tài chính tổ chức Hội thảo cấp cao về ODA thế hệ mới “Khoản vay Chương trình cho chuyển đổi xanh hướng tới tăng trưởng xanh và tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu”.

Phát triển nông nghiệp xứ lạnh đặc trưng là lợi thế khác biệt của các xã nằm trong khu vực Măng Đen.

Quảng Ngãi: Phát triển các xã khu vực Măng Đen thành vùng du lịch sinh thái và nông nghiệp xứ lạnh

Sáng 18/3, tại buổi làm việc với lãnh đạo các xã: Măng Đen, Măng Bút và Kon Plông, đồng chí Nguyễn Hoàng Giang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi yêu cầu 3 địa phương cần phát huy lợi thế khác biệt, tập trung phát triển du lịch sinh thái và nông nghiệp xứ lạnh đặc trưng.

Sản lượng sầu riêng của tỉnh Đồng Tháp rất lớn nhưng chất lượng chưa đồng đều.

Vùng nguyên liệu có tổ chức - lối ra cho nông sản Việt

Trong nhiều thập kỷ qua, nông nghiệp Việt Nam đã có bước phát triển rất lớn. Từ một quốc gia từng lo thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu quan trọng đối với nhiều mặt hàng như: gạo, cà-phê, hạt điều, hồ tiêu, trái cây và thủy sản. Đây là một thành tựu rất đáng ghi nhận.

(Ảnh minh họa: THÀNH ĐẠT)

Phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày 16/3, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 433/QĐ-TTg phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026-2030, nhằm thúc đẩy chuyển đổi số thực chất trong khu vực này, nâng cao năng suất, khả năng thích ứng với biến động thị trường và tăng cường tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Những nương chè xanh mướt của Bản Lầu.

Chè Bản Lầu kêu cứu

Xã Bản Lầu (Lào Cai) vừa có công văn đề nghị lãnh đạo tỉnh Lào Cai, bao gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lào Cai) và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Lào Cai xem xét tháo gỡ khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ chè trên địa bàn xã.

Quang cảnh hội thảo.

Lợi ích sản xuất lúa cải tiến không cày xới đất

Đại học Cần Thơ vừa tổ chức hội thảo “Lợi ích của mô hình sản xuất lúa cải tiến không cày xới đất tích hợp công nghệ ICT và hệ thống điện mặt trời trên ruộng lúa” thu hút đông đảo nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân tham dự.

Ảnh minh họa. (Ảnh: TTXVN)

Nhiều bộ, địa phương chưa hoàn tất kiểm kê tài sản công

Ngày 12/3/2026, Bộ Tài chính ban hành Công văn số 2961/BTC-QLCS về việc công khai tiến độ thực hiện Tổng kiểm kê tài sản công. Theo dữ liệu cập nhật trên Phần mềm Tổng kiểm kê đến 17 giờ ngày 16/3/2026, tiến độ triển khai tại các bộ, ngành trung ương và địa phương vẫn còn nhiều điểm cần đẩy nhanh.

Doanh nghiệp kỳ vọng nhiệm kỳ mới tạo xung lực cải cách và đổi mới sáng tạo

Doanh nghiệp kỳ vọng nhiệm kỳ mới tạo xung lực cải cách và đổi mới sáng tạo

Sau cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, cộng đồng doanh nghiệp bày tỏ kỳ vọng nhiệm kỳ mới sẽ tiếp tục thúc đẩy cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tạo động lực phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.

Đến năm 2030, tỉnh sẽ còn khoảng 7.200 tàu cá.

Lâm Đồng chuyển đổi hơn 1.000 tàu cá để bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Ngày 17/3, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng thông tin, tỉnh vừa mới phê duyệt quyết định dự án chuyển đổi nghề, gắn với cơ cấu lại đội tàu và ứng dụng công nghệ số trong khai thác hải sản trên địa bàn đến năm 2030, nhằm phòng, chống khai thác hải sản IUU, hướng đến phát triển bền vững ngành thủy sản.