Chuyển dịch năng lượng tái tạo: Cần chính sách, vốn và trao quyền cho phụ nữ

Năm 2024, năng lượng tái tạo mới chiếm 12,8% sản lượng điện quốc gia, trong khi mục tiêu đến năm 2050 là 71,5%. Để rút ngắn khoảng cách ấy, Việt Nam cần đồng thời giải ba bài toán: hoàn thiện khung pháp lý, huy động 136,3 tỷ USD vốn đầu tư, và đưa phụ nữ từ vị trí "bên lề" vào trung tâm cuộc chuyển dịch.

Chuyển dịch năng lượng tái tạo: Cần chính sách, vốn và trao quyền cho phụ nữ.
Chuyển dịch năng lượng tái tạo: Cần chính sách, vốn và trao quyền cho phụ nữ.

Ba bài toán ấy được đặt cạnh nhau - có lẽ lần đầu tiên tại một diễn đàn báo chí - trong Hội thảo "Truyền thông về năng lượng tái tạo hướng đến Net Zero năm 2026" (MERE2026), khai mạc sáng 19/3 tại Hà Nội. Được Trung tâm Bồi dưỡng Nghiệp vụ Báo chí - Hội Nhà báo Việt Nam (VJTC) phối hợp cùng Viện Nghiên cứu vùng và đô thị (IRUS) tổ chức trong ba ngày (19-21/3), hội thảo quy tụ hàng chục nhà báo từ các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương, cùng các chuyên gia hàng đầu về năng lượng, môi trường, giới và truyền thông.

1-4869.jpg
Các nhà báo cùng các chuyên gia cùng tìm lời giải cho những "nút thắt" trong truyền thông về chuyển dịch năng lượng hướng tới Net Zero.

Cuộc cách mạng năng lượng không chỉ cần sự vào cuộc của Chính phủ hay doanh nghiệp, mà cần sự đồng thuận của toàn xã hội - như nhận định của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Phước, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, trong phát biểu chào mừng hội thảo. Trong tiến trình đó, "truyền thông đóng vai trò là 'ngọn hải đăng' định hướng" - mắt xích quan trọng kết nối giới khoa học, nhà quản lý và công chúng. Ông đề xuất bốn định hướng cho báo chí năng lượng: tiên phong truyền thông chính sách, tôn vinh mô hình điển hình, đổi mới phương thức (ứng dụng báo chí dữ liệu và báo chí giải pháp), và hướng tới sự công bằng - bảo đảm quá trình chuyển dịch "không bỏ lại ai ở phía sau, hài hòa giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế-xã hội".

Chuyển dịch năng lượng, theo cách đặt vấn đề của Nhà báo Nguyễn Đức Lợi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam, "không chỉ là câu chuyện về công nghệ hay nguồn lực đầu tư, mà còn liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế-xã hội như việc làm, sinh kế của cộng đồng, cũng như yêu cầu bảo đảm một quá trình chuyển đổi công bằng và bền vững". Đối với báo chí, đây vừa là thách thức - bởi là lĩnh vực chuyên môn sâu, vừa là cơ hội thực hiện những tuyến bài có giá trị, "góp phần thúc đẩy phát triển năng lượng sạch và nền kinh tế xanh".

Tiềm năng lớn, lộ trình rõ và bài toán 136,3 tỷ USD

Bức tranh năng lượng tái tạo Việt Nam hiện tại vừa cho thấy quãng đường phải đi, vừa cho thấy nền tảng đã có. Tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống đạt 82.387MW, trong đó điện mặt trời 16,5GW (25% tổng công suất) với tốc độ tăng trưởng trung bình 25%/năm giai đoạn 2020-2024, hơn 103.000 hệ thống điện mặt trời mái nhà đã vận hành. Điện gió tăng từ 0 lên khoảng 6.000MW chỉ trong giai đoạn 2018-2023, với tiềm năng ngoài khơi lên tới 600GW. Tiềm năng điện mặt trời ước tính 294.500-575.700MW, sinh khối khoảng 7.000MW và điện rác 1.500MW. Đặt trong bối cảnh toàn cầu - năm 2024 thế giới lắp đặt kỷ lục 597 GW điện mặt trời, tổng công suất điện gió đạt 1.173.581 MW - Việt Nam đang ở vị trí thuận lợi để tăng tốc.

Quy hoạch Điện lực quốc gia hiệu chỉnh (QHĐ 8-HC) đặt mục tiêu đưa tỷ trọng năng lượng tái tạo (không bao gồm thủy điện) lên 28-36% vào năm 2030 và 71,5% vào năm 2050. Điện gió ngoài khơi được kỳ vọng đạt 6.000MW giai đoạn 2031-2035 với 8 cụm dự án đề xuất trải dài từ bắc đến nam. Tư duy quy hoạch cũng chuyển biến: từ "xây thêm nhà máy" sang "xây dựng hệ thống năng lượng đồng bộ toàn diện", nhấn mạnh lưới điện thông minh và mô hình tự sản tự tiêu. Nghị quyết 70-NQ/TW khẳng định khu vực tư nhân là động lực chủ đạo.

Để hiện thực hóa lộ trình này, nhu cầu vốn đầu tư ước tính lên tới 136,3 tỷ USD đến năm 2030 - vượt xa khả năng ngân sách công. Thách thức nằm ở việc tạo điều kiện cho dòng vốn tư nhân chảy nhanh hơn: khung pháp lý đang trong giai đoạn hoàn thiện với nhiều tín hiệu tích cực. Dự thảo sửa đổi Luật Điện lực mở rộng thẩm quyền địa phương, đề xuất hình thành thị trường giao dịch chứng chỉ năng lượng tái tạo (REC), bổ sung ưu đãi cho điện gió ngoài khơi và năng lượng mới (hydrogen xanh, amoniac xanh). Dự thảo sửa đổi cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) cho phép bán tới 50% sản lượng điện dư (tăng từ 20%), mở rộng đối tượng tham gia sang khu đô thị và khu thương mại tự do. Khung giá phát điện năm 2025 đã được ban hành cho tất cả các loại hình công nghệ, tạo cơ sở thương thảo rõ ràng hơn cho nhà đầu tư.

Tuy nhiên, quá trình hoàn thiện cần nhanh hơn. Trong 85 dự án năng lượng tái tạo chuyển tiếp, 30 dự án (1.631,85MW) đã hoàn thiện vận hành thương mại, 63 dự án đã ký hợp đồng - một tiến triển đáng kể, song vẫn cần đẩy nhanh tiến độ để không bỏ lỡ cơ hội chi phí sản xuất điện tái tạo (LCOE) đang giảm nhanh trên toàn cầu.

Phụ nữ - từ "đối tượng bên lề" đến chủ thể chuyển dịch năng lượng

Một chủ đề thường vắng bóng trong các diễn đàn năng lượng tại Việt Nam đã được đưa vào trung tâm hội thảo MERE2026: Tiến sĩ Vũ Thị Thanh (Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đặt vấn đề ngay từ đầu: phụ nữ không nên được nhìn nhận là đối tượng hưởng lợi hay nhóm dễ bị tổn thương trong chuyển dịch năng lượng mà họ là người lao động, người sử dụng năng lượng cho sinh kế, doanh nhân sản xuất kinh doanh năng lượng sạch, và đối tác trong hoạch định chính sách. Theo Tiến sĩ Vũ Thị Thanh, báo chí cần phản ánh vai trò chủ động ấy, thay vì chỉ nhấn mạnh khía cạnh thụ động.

3-8524.jpg
Tiến sĩ Vũ Thị Thanh nhấn mạnh lăng kính về bình đẳng giới trong lĩnh vực năng lượng: "Chuyển dịch công bằng không thể thiếu bình đẳng giới; cần nhìn nhận phụ nữ là tác nhân thay đổi, không chỉ là người hưởng lợi".

Dữ liệu quốc tế và trong nước cho thấy không gian để phụ nữ tham gia còn rất rộng. Theo IRENA, phụ nữ chiếm 32% lực lượng lao động năng lượng tái tạo toàn cầu - cao hơn đáng kể so với 22% trong ngành dầu khí truyền thống, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với tỷ trọng nữ giới trong nền kinh tế nói chung. Khoảng cách lớn nhất nằm ở cấu trúc phân bố: phụ nữ chiếm 45% ở vị trí hành chính, nhưng chỉ 28% trong các vai trò STEM và 19% ở vị trí lãnh đạo cấp cao. Tại Việt Nam, quá trình chuyển dịch năng lượng được ước tính sẽ tạo ra khoảng 1,61-1,93 triệu việc làm/năm trong lĩnh vực điện. Số lao động nữ trong ngành đã tăng từ 18.300 người (2012) lên 23.630 người (2021) với tốc độ bình quân 4,6%/năm - một xu hướng tích cực, nhưng quy mô vẫn còn rất khiêm tốn so với tiềm năng.

Tiến sĩ Vũ Thị Thanh chỉ ra bảy thách thức cốt lõi đang hạn chế sự tham gia của phụ nữ: chuẩn mực giới và phân biệt đối xử ảnh hưởng lựa chọn nghề nghiệp; chính sách năng lượng thiếu tính đáp ứng giới do các nhà xây dựng chính sách thiếu dữ liệu phân tách giới; hạn chế tiếp cận đào tạo STEM và công nghệ; rào cản tín dụng - phụ nữ gặp khó khăn hơn nam giới trong tiếp cận các chính sách tín dụng năng lượng; thiếu mạng lưới kết nối và cơ hội cố vấn; tỷ lệ đại diện thấp trong cơ quan ra quyết định về năng lượng; và yêu cầu an toàn tại nơi làm việc trong các dự án năng lượng.

Nhưng thông điệp không dừng ở thách thức. Ba nhóm giải pháp đã được đề ra: hỗ trợ phụ nữ tiếp cận thông tin và cơ hội việc làm năng lượng (qua hội chợ nghề nghiệp, chương trình cố vấn, quảng bá loại hình công việc phù hợp); tăng cường năng lực chuyên môn (đào tạo STEM, phát triển mạng lưới phụ nữ trong ngành); và bảo đảm môi trường làm việc bình đẳng, an toàn. Đặc biệt, chuyên gia nhấn mạnh vai trò của truyền thông: "Không có chuyển dịch năng lượng công bằng nếu phụ nữ bị bỏ lại phía sau. Báo chí không chỉ đưa tin về năng lượng tái tạo mà góp phần định hình một chuyển dịch năng lượng công bằng, bao trùm và nhân văn". Tiến sĩ Thanh lưu ý rằng bình đẳng giới không phải nội dung "bổ sung", mà là yếu tố cấu thành chất lượng của chuyển dịch năng lượng và báo chí cần tránh cả hai thái cực: bi kịch hóa hoặc tô hồng vai trò phụ nữ, thay vào đó phản ánh cả cơ hội lẫn rào cản.

MERE2026, với mô hình tài trợ báo chí có mục tiêu, là nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa sự phức tạp của ngành năng lượng và năng lực truyền thông. Trong bối cảnh Việt Nam đang chạy đua với thời gian trên hành trình từ 12,8% đến 71,5% năng lượng tái tạo, việc trang bị cho đội ngũ nhà báo cả kiến thức chuyên môn lẫn góc nhìn giới chính là đầu tư vào chất lượng truyền thông - điều sẽ quyết định liệu cuộc chuyển dịch năng lượng của Việt Nam trở nên công bằng, bao trùm và bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định mục tiêu phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững. (Ảnh: VGP/ĐỨC TUÂN)

Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero

Ngày 8/7, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững dự và phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn "Năng lượng và môi trường thế giới-Việt Nam 2026" với chủ đề "Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero".

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Vỏ trấu, mỡ cá tra và dầu ăn đã qua sử dụng đều có thể được sử dụng để sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững. Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia ASEAN có nguồn nguyên liệu dồi dào nhưng đến nay vẫn chưa có nhà máy sản xuất, các hãng hàng không trong nước phải nhập khẩu loại nhiên liệu này với chi phí cao gấp nhiều lần.

Đúng giờ mở cửa thị trường, nguyên Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cùng các đại biểu đã thực hiện nghi thức khai trương Sàn Giao dịch carbon trong nước, bắt đầu phiên giao dịch đầu tiên của thị trường carbon.. (Ảnh: BTC)

Khơi thông nguồn lực cho kinh tế xanh

Sàn Giao dịch carbon đi vào hoạt động không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, mà còn tạo cơ chế để các doanh nghiệp chủ động tối ưu chi phí giảm phát thải thông qua giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới

Cuộc cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI đang bước sang một giai đoạn mới, khi chi phí lao động thấp hay các ưu đãi về đất đai, thuế suất không còn là lợi thế thì năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị doanh nghiệp) đang trở thành yếu tố quyết định để đón dòng vốn FDI chất lượng cao.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu

Những yêu cầu ngày càng khắt khe về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn ESG đang tạo ra áp lực chưa từng có đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chủ động tái cấu trúc, đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị phát thải nhằm từng bước tham gia sâu vào chuỗi phát triển bền vững toàn cầu.

Hiện tỉnh Sơn La có 58 hợp tác xã nông nghiệp có mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Chuyển đổi xanh mở lối cho nông nghiệp Sơn La phát triển bền vững

Tỉnh Sơn La đang khẳng định vị thế là địa phương đi đầu trong phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và chuyển đổi số. Những mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong chế biến nông sản, tư duy sản xuất theo hướng bền vững đã góp phần nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập cho người dân.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao

Trên hành trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xây dựng được xem là lĩnh vực then chốt cần chuyển đổi mạnh mẽ. Không chỉ quy mô tiêu thụ tài nguyên khổng lồ, mà còn bởi lượng phát thải chiếm tỷ trọng lớn. Những nghiên cứu về vật liệu xây dựng xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. (Ảnh: Netzero.vn)

Net Zero và cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam

Cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 thường được nhìn nhận như một mục tiêu khí hậu hay nghĩa vụ quốc tế. Nhưng ở góc độ phát triển, Net Zero còn là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và kiến tạo những động lực phát triển mới cho nền kinh tế.

Sản phẩm vật liệu xanh được Công ty Xi-măng Sông Thao phân phối ra thị trường.

Khơi thông tiềm năng vật liệu xanh, bền vững

Xanh hóa vật liệu cho ngành xây dựng mang lại lợi ích kinh tế, đồng thời là giải pháp hữu hiệu nhằm giảm phát thải, hướng tới nền kinh tế xanh, bền vững. Thời gian qua, các công trình nghiên cứu, thử nghiệm về loại vật liệu này đã cho thấy tính khả thi cao và có nhiều tiềm năng ứng dụng trong thi công.

Dự án góp phần hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ trong chuyển đổi xanh. (Ảnh: CTV)

Hỗ trợ tối đa 1,8 tỷ đồng cho các sáng kiến về chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt

Từ nay đến hết ngày 12/6/2026, mỗi sáng kiến góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm tử tế và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với điều kiện địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được nhận hồ sơ xét tài trợ đợt hai.