Tôi thấy màu của Tết bắt đầu bằng công việc lặng lẽ của bố. Mỗi năm một lần, ngôi nhà ba gian mái ngói của gia đình lại được bố tôi tân trang để đón Tết. Việc ấy bao giờ cũng bắt đầu từ cuối tháng 11 âm lịch.
Bố mua hơn yến vôi sống đem về, rồi lựa lúc chị em tôi đi học vắng, tự tôi vôi trong cái bể nước đã hỏng, ở ngoài góc vườn. Xong xuôi, bố che đậy cẩn thận, không cho lũ trẻ nghịch ngợm dại dột. Đợi sang tháng sau, có nắng hanh, mặt sân đất trước nhà khô trắng và gió thổi nhẹ từ phía bờ tre sau nhà, bố sẽ dành cả ngày để cẩn thận quét từng lớp chổi đẫm nước vôi trắng tinh lên những bức tường lem luốc vì chị em tôi đã biến chúng thành tấm bảng, tờ giấy để tranh thủ viết chữ, vạch nét, vạch hình bằng than củi… Từng nhát chổi quét mạnh, rồi quét lại nhẹ nhàng khiến tường nhà sáng dần, tinh tươm như vừa được khoác bộ áo mới.
Quét xong ba gian chính, bố chuyển sang cái bếp nhỏ, nơi mẹ tôi suốt ngày lui cui nấu nướng. Góc bếp ám khói quanh năm, tường bếp lúc nào cũng sẫm màu, vậy mà chỉ quét vài lớp vôi, không gian bỗng sáng bừng, nhìn mà thấy Tết như đang gần hơn trước hiên nhà.
Sau căn bếp là đến khu phụ, đốc chuồng lợn, bức tường bao quanh vườn, những nơi tưởng như chẳng mấy ai để ý nhưng bố vẫn không bỏ sót. Cả những gốc cây trong vườn cũng được bố quét vôi trắng toát. Tất cả đều được khoác lên một lớp áo trắng tinh, mới mẻ và sáng sủa để đón mùa xuân mới. Trong cái nắng hanh tháng Chạp, mùi vôi mới, tiếng bố tôi xả nước rửa chổi, tiếng gà cục tác gọi nhau…, tất cả hòa lại thành một cảm giác rất riêng, chỉ có thể là khi Tết đang đến.
Và cũng từ những ngày ấy, tôi hiểu rằng, màu của Tết không chỉ đến từ mâm ngũ quả hay cành đào, mà bắt đầu từ rất sớm, khi ngôi nhà được làm mới lại bằng bàn tay của bố.
Rồi tôi gặp màu của Tết qua những phiên chợ tháng Chạp.
Đó là màu xanh của những ống giang mẹ mua từ chợ về, được đặt dưới gốc cau. Mẹ giao cho tôi nhiệm vụ cạo đi lớp vỏ xanh bên ngoài, còn lúc rảnh, mẹ sẽ chẻ ống giang ra thành những sợi lạt mềm, dai, để gói bánh chưng.
Đó là cả một khoảng trời xanh thẫm của lá dong ở chợ làng. Lá được xếp thành từng bó, bản lớn và dày, còn đọng những giọt sương mưa từ tán xà cừ cổ thụ phía trên nhỏ xuống. Mẹ tôi bao giờ cũng mua nhiều, vì mẹ muốn chọn lá đẹp để gói bánh. Tôi nhớ mãi câu giải thích ngắn gọn của mẹ, "Gói bánh cũng là gói cả một năm may mắn”.
Rồi đến những phiên chợ Tết, nơi sắc màu bắt đầu rộn ràng hẳn lên. Ở làng tôi, chợ họp vào hai ngày, 22 và 27 tháng Chạp là đông vui nhất. Chợ Tết bao giờ cũng đẹp như một bức tranh, mà nét vẽ đầu tiên là màu vàng của những chùm quất chín mọng, được xếp thành từng rổ, quả nào cũng tròn căng, lá còn xanh nguyên, chỉ nhìn thôi đã thấy ấm áp…
Nhưng rực rỡ nhất vẫn là những hàng quần áo Tết. Quần áo mới được treo kín cả mấy sào tre. Áo len đỏ, áo hoa vàng, áo phao xanh…, gió thổi qua làm cả dãy áo rung rinh. Đứa trẻ nào được bố mẹ mua cho bộ đồ mới thì sung sướng đến mức ôm khư khư chiếc áo, lâu lâu lại mở ra xem, rồi gấp lại, áp vào má.
Kề bên hàng quần áo Tết là hàng hoa. Hoa thược dược nở xòe lớp lớp, rực rỡ sắc đỏ, vàng... Hoa violet tím e ấp, nhỏ nhắn, dịu dàng, kiêu hãnh. Nhưng vui nhất là những hàng hoa giấy, hoa nhựa rực rỡ. Những cành hoa đủ màu, hồng, tím, vàng, trắng, không thiếu lá xanh và nụ chúm chím, được người bán cắm thành từng chùm, đung đưa trong gió lạnh tháng Chạp. Trẻ con chúng tôi cứ đứng nhìn mãi, chỉ mong được mẹ mua cho một cành để trên bàn học.
Ngay mép chợ là hàng tranh Đông Hồ. Những bức tranh giấy điệp với sắc màu hồng điều, vàng hoa hiên làm cả khu chợ sáng lên. Tôi mê mẩn đứng nhìn Mèo đuổi chuột, Mục đồng thổi sáo, Vinh quy bái tổ… Bức nào cũng rộn ràng nhưng vẫn có vẻ gì rất đỗi yên bình của làng quê xưa. Tôi theo mẹ chọn mua một bức về treo, như thói quen đi chợ Tết, mà chẳng ai còn nhớ bắt đầu từ khi nào.
Màu của Tết còn hiện ra rất rõ trong vườn nhà. Cây đào phai mà bố tôi trồng ở góc vườn năm nào cũng nở đúng dịp tháng Chạp. Ban đầu chỉ là nụ hoa như những chấm hồng nhạt, bé bằng đầu móng tay. Rồi một sáng đi qua, tôi bỗng thấy vài bông bung nở, hồng phơn phớt như đôi má trẻ con giữa mùa đông. Bố bảo đào phai đẹp vì nó nhẹ nhàng, không rực rỡ như đào bích, mà duyên thầm, đằm sâu. Mỗi khi đào phai nở, gió bấc như cũng bớt buốt hơn. Và tôi biết, Tết đã bước qua cổng nhà rồi.
Căn nhà được quét vôi mới, màu đỏ của câu đối mà bố vừa dán, màu nâu óng của nồi cá kho đang sôi liu riu, màu vàng gừng của khay mứt mẹ vừa làm xong, màu lam của khói bếp chiều cuối năm. Nhưng có lẽ đậm nhất vẫn là màu xanh của nồi bánh chưng. Khi gom lá dong, gói nếp, buộc lạt, từng chiếc bánh như góp vào bếp một mảng xanh mới. Đến khi nồi bánh sôi, màu xanh dần chuyển sang trầm lại, đậm như màu của ký ức. Bọn trẻ thức canh bánh, mắt díp đi trong tiếng chuyện trò của người lớn, nhưng vẫn cố gượng ngồi vì sợ lỡ cái cảm giác sung sướng được tự tay vớt cặp bánh tí hon giữa tiếng ùng ục của nồi bánh, tiếng củi lửa lách tách. Năm lại năm, màu của những ngày giáp Tết thuở ấu thơ đậm in trong tôi. Nhịp chuyển của nó khi sáng sớm mồng Một năm mới đến cũng thành ký ức không thể mờ phai.
Sáng ấy, tôi nhìn qua làn mưa xuân vương lên cành đào trước hiên, thấy ngõ nhỏ nhộn nhịp bước chân đi chúc Tết. Trẻ con xúng xính trong quần áo mới, tay cầm những quả bóng bay đỏ, chạy lon ton đi trước người lớn. Tiếng cười, tiếng nói, lời chúc năm mới… hòa vào nhau thành bản hợp âm riêng có của mùa xuân. Mưa xuân làm áo quần hơi ướt, tóc rối nhẹ đi, nhưng chẳng ai phiền; chính cái tiết trời ấy mới tạo nên nét dịu dàng rất riêng của Tết miền bắc.
Bây giờ Tết đã khác, nhưng màu của Tết vẫn rực rỡ. Chỉ cần nhìn thấy màu xanh lá dong trong chợ, màu của hoa đào… là ta như được kéo về tuổi thơ, về những ngày chạy theo mẹ giữa phiên chợ đông, về những tháng Chạp lạnh mà ấm, nghèo mà đủ đầy...