Kẻ cắp ở cuối làng

Ở quê tôi ngày ấy, cái nghèo không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, mà nó còn tồn tại một thứ định kiến vô hình, tàn nhẫn. Những gia đình sống ở cuối làng, nơi con đường đất cụt ngủn và cỏ dại mọc lút đầu gối, thường mặc nhiên bị coi là "vùng tối" của cả cộng đồng.

Nhà ông Ngơi là một thí dụ như vậy. Cả làng nhìn họ bằng ánh mắt dò xét, canh chừng; hễ có con gà lạc, thúng lúa vơi hay cái cuốc bỏ quên ngoài đồng bị mất, người ta lại chép miệng hướng về phía cuối làng với tâm thế “không chơi được”.

Thấm thoắt đã mấy chục năm, con cái ông Ngơi tản mát khắp nơi để trốn chạy cái dớp nghèo khó và định kiến. Anh Nguyễn Văn Nghiêm, con trai đầu lòng của ông Ngơi, đã chọn Tây Nguyên đại ngàn làm nơi lập nghiệp, anh định cư tại xã Chư Sê (Gia Lai) bên bờ sông Ba.

Trong một chuyến đi lên vùng đất đỏ bazan, tôi ghé thăm anh Ngơi. Anh Ngơi có bảy sào cà-phê, anh còn nuôi gà và nuôi bò, theo đó anh cũng thuộc hộ giàu có trong thôn, “máu mặt” trong làng mỗi khi làng cần “tiền hô, hậu ủng”. Bên chén trà đặc chuyện về những người làng năm xưa người đi, kẻ ở ngày ấy.

Khi tôi gợi về chuyện cũ, về việc làng hay đồn đại gia đình anh "táy máy" nhưng bố tôi không tin điều đó, tôi thì chỉ nghe thôi, anh Nghiêm không lảng tránh, cười hiền. Anh nhìn ra khoảng sân vắng, ông cụ nhà tôi... thật sự có chuyện như vậy. Giờ cụ cũng đã về với tổ tiên, tôi chẳng giấu làm gì. Nhưng ngày đó, trộm của bố tôi nó có cả một thứ triết lý mà giờ nghĩ lại, tôi vừa thương vừa hãi.

Anh Nghiêm kể, những năm đói kém nhất, ông Ngơi thường dẫn anh đi "trộm xa". Anh lon ton theo cha trong một nỗi sợ vô hình. Nhưng, bố tôi không bao giờ vơ vét của người cùng làng, vì ông bảo "trộm làng làng gặp trộm, chỉ thấy cái khổ của nhau". Trên những nẻo đường nhòm ngó xóm thôn, ông dạy anh những bài học kinh nghiệm đúc rút từ sự khốn cùng. Ông dặn: "Muốn trộm, phải biết nhìn lũy tre và nghe tiếng chó”.

Anh Nghiêm giải thích: "Bố tôi dạy, ngày nhìn lũy tre, hễ thấy tre làng đó xanh tốt, tre mọc thành bụi thì làng đó no ấm. Vì người ta không phải chặt măng làm rau sống tạm qua ngày. Còn đêm nghe chó sủa, tiếng sủa phải vang, phải dõng dạc mới là làng giàu. Con chó có cơm ăn mới khỏe, mới sủa vang được. Vào làng nghèo, chó đói sủa hụt hơi, trộm vào đó thì cũng chỉ thấy nước mắt thôi con ạ”.

Hóa ra, ngay cả trong hành vi sai trái ấy, người đàn ông ở cuối làng năm xưa vẫn mang một nỗi quan sát tinh tường đến xót xa về sự no ấm. Ông Ngơi chọn làng giàu để trộm như một sự cân bằng sinh tồn nghiệt ngã, để tránh lấy đi miếng ăn cuối cùng của những người cũng khốn khổ như mình. Lời dạy "Ngày nhìn lũy tre, đêm nghe chó sủa" là một kinh nghiệm thực tế đau đớn của một kẻ bị dồn vào đường cùng.

Nay, tiết trời đang vào những ngày giáp Tết, cái mà người nông thôn vẫn gọi là "tháng củ mật". Cái tháng mà trộm cắp thường lộng hành vì nhu cầu tiêu Tết, vì những khao khát vật chất cuối năm. Ngồi giữa phố thị rộn ràng, tôi chợt nhớ về gia đình ông Ngơi. Những kẻ cắp ở cuối làng năm xưa nay đã khuất bóng, nhưng câu chuyện của anh Nghiêm vẫn hằn in trong tâm trí tôi như một lời nhắc nhở về những tầng nấc của thân phận.

Sự định kiến của dân làng có lẽ đã đúng về hành vi, nhưng lại mù lòa trước nguyên nhân. Cái đói và sự khinh khi đã tạo ra những "chuyên gia" trộm cắp với những bài học truyền đời đầy cay đắng.

Tôi tự hỏi, nếu ngày ấy lũy tre làng tôi xanh hơn, nếu tiếng chó sủa ở cuối làng cũng vang hơn, liệu trộm làng khác qua làng tôi hành sự. Tội đổ đầu nhà ông Ngơi. Và nếu ngày ấy không nghèo đói giống nhau, ông Ngơi có phải dắt con đi vào bóng tối để học cách nhìn măng, nghe tiếng chó sủa hay không? Câu hỏi ấy cứ loay hoay mãi, như dòng nước sông Ba mùa lũ xả, vừa ai oán vừa chẳng biết trách vào đâu cho trọn vẹn.

Quê hương trong tâm tưởng mỗi người là khói bếp, là cánh đồng; nhưng với anh Nghiêm, nó còn là tiếng chó sủa vang trong đêm tối - cái âm thanh đánh dấu sự khác biệt giữa no ấm và bần hàn và nó như một chuyện cũ cần phải thành thật và không lặp lại.

Có thể bạn quan tâm

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.