Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Minh họa: NGUYỄN MINH
Minh họa: NGUYỄN MINH

“Hư… ư...”. Âm thanh rền rĩ như tiếng mèo mẹ gọi con lạc giọng. Dù nghe đã quen tai nhưng vẫn không khỏi rùng mình. Bọn trẻ so vai rụt cổ khi thấy những đốm sáng chập chờn. Mùi nhang đèn lẫn mùi đất ẩm luẩn quất giữa không gian mờ ảo. Thằng Tèo liếc mắt nhìn ngôi nhà xập xệ nằm sau cây gạo, thì thầm:

- Ma câm bọn bay ơi!

…Âm thanh ám ảnh ấy vang lên rõ hơn. Tiếng khóc xen lẫn tiếng ru não nề đứt quãng cứa vào màn ánh sáng nhờ nhờ: “Gió… đưa cây cải về trời… Rau răm ở lại chịu lời… đắng cay ư… hư…”.

Trời sập tối. Sương phủ dày mặt sông. Sương bò lên bờ đê, trườn xuống cánh đồng. Hoa gạo ướt đẫm rơi đồm độp xuống nền đất ẩm. Xóm làng vắng lạnh. Chó nhà ai tru lên từng hồi dai dẳng.

Sáng bảnh mắt. Lũ trẻ lại lùa trâu bò ra thả trên bờ đê. Không biết vì tò mò hay gì mà rủ nhau chạy xuống cánh đồng hoang. Thằng Tèo gan nhất, nó thập thò trước túp nhà cũ kỹ, ngói rêu phủ kín những đám dây leo um tùm. Thằng Ti, con Mến cũng liều nắm áo thằng Tèo men theo lối đi mọc đầy cỏ thẹn.

Gian nhà hoang lạnh chẳng có vật gì đáng giá đồng tiền. Chiếc bàn nhỏ long chân. Một chiếc giường gỗ ọp ẹp, ba viên gạch kê lên thành bếp, vài bộ quần áo sờn mép chỉ ngoắc lên cái đinh trên cột. Tấm ván nhỏ làm bàn thờ lủng lẳng trên bức tường đã tróc vôi lòi ra những viên taplo đen xỉn. Di ảnh một người đàn ông, một người đàn bà. Mùi khói nhang ám lên mọi thứ.

Người phụ nữ hao gầy, khuôn mặt chi chít vết nám sạm đứng lặng phắc trước bàn thờ. Dường như nghe được tiếng động, chị ngoảnh lại, nhướn cặp lông mày thưa nhìn từ đầu đến chân ba đứa nhỏ. Bọn trẻ hơi sợ một chút nhưng vẫn bình tĩnh trấn an nhau. Đứa nọ cấu vào tay đứa kia rồi thì thào:

- Người… Không phải ma…!

Đôi mắt vô hồn ánh lên những tia ấm áp. Chị muốn nói gì đó nhưng không thốt thành lời mà chỉ ư ư trong cổ họng. Chị khoát tay ra hiệu cho mấy đứa vào nhà. Mùi ngô nướng thơm ngọt bay lên triền đê. Chị đưa cho mỗi đứa một bông. Nhìn chúng ăn ngô và cười. Nụ cười méo mó, hiền, ấm như những sợi nắng.

Gần trưa, người làng đi làm về. Có tiếng một bà mẹ kêu lên the thé:

- Thằng Tèo, thằng Ti… Trâu bò đâu rồi mà chui vào nhà con ma câm thế hử. Chúng mày có ra ngay không…!

Trưa hôm đó, bọn trẻ định kể với cha mẹ về chuyện người đàn bà làng trên xóm dưới vẫn gán cho cái tên “con ma câm” ấy là người bằng xương bằng thịt. Người ấy không hề đáng sợ mà ấm áp, gần gũi… Nhưng chưa kịp hé răng thì mỗi đứa đã bị một trận đòn.

*

Từ bến đò nhìn lên bờ đê đã thấy khoảng trời đỏ ối hiện ra trước mắt. Không biết cây gạo sừng sững đứng đó tự bao giờ. Chỉ nhớ khi Lành còn nhỏ theo lũ bạn cởi truồng tắm sông, cây gạo đã ở đó như một kiếp người cô độc. Nó nhìn thấu mọi việc, chứng kiến dòng đời dần trôi mang theo bao thăng trầm khổ hạnh.

Lẽ thường khi đi xa trở về, thấy cây gạo là thấy bóng dáng quê hương để vơi bớt mỏi mệt. Nhưng với Lành, thấy cây gạo là những ký ức buồn đau hiện về rõ như thước phim quay chậm. Dù chị vẫn còn nặng lòng yêu nó với một tình yêu mộc mạc đơn sơ.

Năm ấy, vào dịp cuối tháng ba đầu tháng tư dương lịch. Đúng mùa hoa gạo thắp lửa. Cha Lành không ốm đau mà đột ngột qua đời. Chưa được nửa năm, mẹ cũng lặng lẽ đi theo. Người làng kháo nhau, nhà ở sát cây gạo bị ma ám nên mới trùng tang… Họ khiếp sợ cây gạo, xa lánh ngôi nhà nằm tách biệt giữa cánh đồng hiu quạnh. Lành sống cô độc giữa đất quê nghèo, thiên tai khắc nghiệt, hạn hán bão lũ quanh năm.

Chán ngán, bế tắc. Giỗ đầu cha mẹ xong, chị khăn gói vào nam, bươn chải đủ nghề. Vừa kiếm sống, vừa cố quên nỗi đau mồ côi, quên những định kiến lạc hậu cổ hủ. Cô gái năm nào đã thành người đàn bà từng trải với không ít lần va vấp, chỉ cốt tìm một chỗ dựa tinh thần nơi đất khách quê người.

Thời gian trôi qua, nỗi tủi nhục trong lòng đã phần nào nguôi ngoai. Lành lại thương quê, lại nhớ cây gạo da diết. Chị ân hận vì nỡ bỏ quê, bỏ nhà, bỏ hương khói cho cha mẹ. Chị hy vọng quê đã đổi thay và quyết định trở về.

*

Mấy vòng vải dày cộm siết chặt cái bụng ngày một to dần, nóng ran, căng cứng khiến Lành muốn ngạt thở. Chị nhìn trước ngó sau rồi từ từ tháo từng lớp vải ra, thở phào nhẹ nhõm như rũ bỏ được những thứ ràng buộc cuộc đời mình.

Lành vác cái bụng uệnh oạng đi làm đồng. Vành nón sùm sụp che ngang mặt. Người ta chỉ trỏ nói với nhau: “Hoa gạo càng đỏ thì gái làng càng hư hỏng, lại có đứa chửa hoang”.

Nhìn những bông hoa gạo to như cái phễu đang xoay tít giữa không trung. Lành chợt nghĩ, sao hoa cứ phải âm thầm chịu mọi điều tiếng xấu xa, nó vừa mộc mạc vừa kiêu sa đến thế sao người đời nỡ gán cho nó bao điều nghi kỵ tội lỗi.

…Trăng suông sắp tan. Tiếng bìm bịp thảng thốt phía bờ sông bạc nước. Bà thím lấy chú ruột của Lành ra vẻ nghiêm trọng nói với chồng:

- Ông này, con Lành chửa hoang đấy… Ta mời thầy cúng về làm lễ xua đuổi ma quỷ cho nó thôi.

Ông chú gục gặc cái đầu, bà nói phải, nói phải…

Tờ mờ đất, thầy cúng đã có mặt ở nhà Lành. Vẻ bí hiểm, đôi mắt lòng trắng nhiều hơn lòng đen. Thầy bảo Lành quỳ xuống, đi vòng tròn rồi ẩy Lành ngã ngửa, tay ấn, chân dẫm lên bụng. Thầy ngậm một ngụm dầu hỏa rồi phun vào bó hương đang cháy, ngọn lửa bùng lên rừng rực. Thầy cạy mồm đổ vào họng Lành một chén nước xanh như mắt mèo bảo đó là nước thánh. Chân tay thầy khều khào múa may, miệng lẩm bẩm mấy câu vô nghĩa. Lành không có phản ứng gì hết. Toàn thân cứng đơ như khúc gỗ. Mắt tóe đom đóm, đầu óc âm âm u u. Chợt Lành ôm bụng. Đau quá, đau dữ dội, đau đến chết được… Từ phía dưới, nước ối cùng với máu ồng ộc tuôn ra ướt sũng.

Lành tỉnh dậy, yếu ớt ngóc cổ lên, chỉ kịp thấy một hình hài quái dị tím tái nằm giữa cặp đùi dính đầy máu rồi chìm vào mê man.

Sau khi Lành sinh con không nuôi được, dân làng càng xem chị như hủi như ma. Dưới con mắt của họ, chị là con mẹ chửa hoang, là mụ đàn bà ma ám, đẻ không ra hình người.

Từ hôm đó, những âm thanh nửa như ru hời nửa như khóc vọng ra từ ngôi nhà u ám. Đêm đến, có một người đàn bà tóc tai bù xù, bế một cái bọc trong tay đi ra gốc gạo. Chị cúi xuống “ú u” trong cổ họng như thể mẹ đang nựng nịu con. Ngửa mặt nhìn những bông gạo đen thẫm trong bóng đêm. Chị cười, hàm răng trắng lóa.

Lành thoắt ẩn thoắt hiện trong thế giới câm lặng của riêng mình. Tự khỏa lấp nỗi đau với hình hài đứa con thơ trong tâm tưởng. Chôn vùi tuổi xuân trong nghi kỵ và những quan niệm cổ hủ mù quáng.

*

Mặc dù bị người lớn cấm đoán, bị nhồi nhét bao nhiêu chuyện thêu dệt rùng rợn nhưng bọn trẻ vẫn lén xuống cánh đồng hoang chơi với “dì Lành”.

Hôm nay chúng lại thả trâu bò trên bờ đê, lân la dưới gốc gạo. Con Mến nhặt những bông gạo rụng xâu thành chuỗi bảo đây là vương miện của dì Lành. Thằng Tèo, thằng Ti giấu mấy củ khoai vào áo bảo lát nữa xuống bếp dì Lành để nướng.

Lành đội vương miện đỏ. Ánh đỏ của những bông hoa gạo làm đôi má hơi ủng hồng. Chị âu yếm nhìn ba đứa trẻ. Trái tim bỗng nổi lên những nhịp đập rộn rã. Đứa tóc hoe nắng, đứa da đen nhẻm... Ôi, lạ chưa, có đứa lại đỏ hỏn, khóc oe oe. Sao mà giống “nó” thế… Từng đường mạch máu trỗi dậy, chạy rần rần trong cơ thể. Lành dang tay ôm cả mấy đứa nhỏ vào lòng. Run rẩy, hồi hộp thơm lên mái tóc khét mùi lông trâu, mùi mồ hôi chua lòm của chúng. Thoạt đầu chúng co rúm vì sợ nhưng sau đó lại ngồi im. Nước mắt Lành chan hòa như mưa. Chị nới lỏng tay thả lũ trẻ, ự ự rồi bật ra tiếng:

- Tèo, Ti, Mến… Thương lắm, yêu lắm…

Mấy đứa nhỏ mắt chữ a mồm chữa o. Hết nhìn nhau lại nhìn Lành. Trí não non nớt thơ ngây của chúng vẫn chưa thể hiểu người đàn bà mà cả làng ghét bỏ, người đàn bà bị gán cho cái tên ám ảnh “con ma câm” lại đầy trìu mến ấm áp, lại nói được những lời yêu thương đến thế. Bọn trẻ đã lay tỉnh một tâm hồn đã chết. Hay người đàn bà tội nghiệp này đã lay tỉnh tâm hồn bọn trẻ.

Không còn sợ hãi, cũng chả cần giấu giếm nữa. Mắt thằng Tèo hấp háy sáng rực. Nó đứng dậy, hai chân quýnh quáng, nó lao thẳng lên bờ đê. Vừa chạy vừa reo:

- Cha ơi, mẹ ơi, các ông bà ơi! Dì Lành là người, không phải ma. Dì Lành biết nói, dì Lành không câm…

Thằng Ti, con Mến cũng chạy theo:

- Các ông bà ơi, dì Lành là người, dì Lành không câm…

Thấy bọn trẻ bất ngờ bỏ chạy, Lành ngơ ngác giây lát rồi gọi:

- Mấy đứa chờ dì với…

Cứ thế Lành đi, chân không bén đất. Trên cao, hoa gạo bùng cháy như những đốm lửa. Trời cuối xuân bồng bềnh màu mây. Bên con đường sát chân đê, có bóng dáng người đàn ông với đôi chân tập tễnh đang nhìn Lành bằng ánh mắt ấm nóng thăm thẳm. Ôi, anh đấy ư, người em vẫn hằng mong nhớ đợi chờ suốt mấy năm qua đấy ư…?

Lành mơ màng tỉnh thức cho đến khi người như có cánh, nhẹ hẫng.

Mọi người lao xao chạy đến. Lúc này Lành đã nằm thiêm thiếp dưới tán cây rực rỡ. Chiếc vương miện đỏ vẫn ở trên đầu.

Những quả gạo đầu tiên bung ra vô vàn sợi bông li ti trắng xóa. Gió nâng những cánh hoa màu lửa đáp đất. Hoa vẫn đẹp vẹn nguyên, ru người đàn bà ấy trôi vào giấc ngủ thuần khiết mãn nguyện.

Có thể bạn quan tâm

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.

Minh họa: KIM DUẨN

Màu của Tết

Mùi của Tết thường đến khi gian bếp thơm mùi bánh chưng sôi ùng ục, khi những chiếc áo cũ mẹ mang ra phơi vẫn vương mùi băng phiến, khi mùi trầm ngan ngát theo gió thổi qua mỗi gian nhà. Khi ấy, Tết đã cận kề. Nhưng màu của Tết thì đến sớm hơn nhiều…

Anh Hiển (hàng dưới) chụp hình lưu niệm cùng du khách tại homestay của mình.

Chuyện của Hiển

Ngồi ngẫm lại chuyện gần 10 năm trước, Dương Vĩnh Hiển, chủ homestay HT Ánh Trung tại Làng Văn hóa Du lịch Cộng đồng Dân tộc H'Mông (xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang) vẫn thấy mình “Sao liều thế!”.

Chợ Tết. Ảnh: NGUYỆT ANH

Chợ tháng Chạp

Chợ tháng Chạp không giống bất kỳ phiên chợ nào trong năm. Ngay từ tinh mơ, khi sương còn lẫn vào mùi rơm ẩm và khói bếp, những con đường dẫn về chợ đã lấp ló bóng người.

Hoài niệm. Ảnh: HẢI ANH

Những món đồ ở lại cùng ký ức

Tết lại sắp về. Cái rét cuối năm chưa kịp chạm ngõ đã thấy trong nhà xôn xao chuyện dọn dẹp. Con cháu bảo nhau lau bàn thờ, sắp lại tủ, phân loại đồ đạc: Cái nào dùng, cái nào bỏ, cái nào “cho đi”. Trong danh sách ấy, có rất nhiều thứ mà người trẻ gọi là “đồ cũ”, còn người già thì gọi bằng một cái tên khác: Kỷ niệm.

Phố đông. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bao dung phố mùa đông

Những cơn mưa dầm xuất hiện. Từng cơn gió lạnh ùa khắp các con đường. Mỗi chiều về ngang phố, thoảng nghe tiếng thì thầm của lá, tiếng chim kêu run rẩy. Ở phố, sự có mặt của mùa đông dường như ít nhận ra từ đặc trưng của thiên nhiên mà thường tạo nên bởi rung động, xôn xao của cảm xúc con người.

Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG

Phúc nhà

Mẹ bàn với tôi Tết này xin phép nhà nội, bọn trẻ rồi vợ chồng con cái ở lại ăn Tết với mẹ, có gì để mẹ nói đỡ với ông bà bên ấy một tiếng. Sau bao nhiêu sóng gió vừa xô đến với gia đình tôi, tóc mẹ trắng như cước và lưng mẹ như oằn hẳn xuống.

Kẻ cắp ở cuối làng

Ở quê tôi ngày ấy, cái nghèo không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, mà nó còn tồn tại một thứ định kiến vô hình, tàn nhẫn. Những gia đình sống ở cuối làng, nơi con đường đất cụt ngủn và cỏ dại mọc lút đầu gối, thường mặc nhiên bị coi là "vùng tối" của cả cộng đồng.

Các món chè. Ảnh: NAM NGUYỄN

Nhớ sao vị ngọt ngào thơ ấu

Một sáng cuối tuần, tôi ghé khu chợ nhỏ quen thuộc gần nhà. Đang mải miết suy nghĩ mua nguyên vật liệu gì thì tiếng rao lảnh lót “Ai chè đậu đỏ, đậu đen, đậu xanh, thập cẩm không?” của một người phụ nữ quẩy quang gánh trên vai đã làm tôi khựng lại.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Người khách đến nhà

Nắng tháng 5 dát vàng mái phố. Ngôi biệt thự số 7 Rue Jean Soler nằm ngay góc giao với Rue Jauréguiberry dường như nổi bật thêm lên bởi mầu sơn vàng. Ông Duot Bertheur (Đuy ô), người chủ của ngôi biệt thự, dậy sớm, đứng trên ban-công tầng 2, để ngắm nắng sớm mai.

Nhà khoa học chân chính

Đó là biệt danh lũ chúng tôi đặt cho anh khi mon men lên Thư viện Quốc gia mượn sách. Giữa môi trường tri thức trăm phần trăm, giáo sư, tiến sĩ "đông như quân Nguyên", anh vẫn nổi bật bởi vẻ đắm đuối suy tư những điều cao siêu đến thoát tục.