Người khách đến nhà

Nắng tháng 5 dát vàng mái phố. Ngôi biệt thự số 7 Rue Jean Soler nằm ngay góc giao với Rue Jauréguiberry dường như nổi bật thêm lên bởi mầu sơn vàng. Ông Duot Bertheur (Đuy ô), người chủ của ngôi biệt thự, dậy sớm, đứng trên ban-công tầng 2, để ngắm nắng sớm mai.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN
Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Trong lòng thư thả, ông Đuy ô chợt thấy có hai người vừa bước qua cổng. Ông nhận ngay ra người đi đầu là ông đầu bếp của nhà mình, ông Bân, một người đàn ông ba mươi tuổi, tính tình vui vẻ, chăm chỉ việc bếp núc. Còn người thanh niên dáng vẻ thư sinh đi sau ông bếp Bân thì ông Đuy ô thấy là lạ. Thoáng chút suy nghĩ để nhận dạng nhưng ông Đuy ô không biết được đó là ai bởi thường ngày vẫn có những người lao công ngoài phố vào đây quét rác. Bởi thường ngày vẫn có những người lạ tới đây giao đồ thực phẩm. Cũng có khi là người quen của mấy người giúp việc trong nhà.

- Bonjour Monsieur. Bonne matinée! (Chào ông. Chúc ông có một buổi sáng tốt lành) - Ông Bân lên tiếng chào bằng tiếng Pháp sau khi cùng người thanh niên đã vào hẳn trong sân. Hai người dừng lại cùng ngước lên ban-công.

- Ồ. Chào bếp Bân - Ông Đuy ô trả lời bằng tiếng Việt, giọng lơ lớ - Sáng nay ông đưa ai đến đấy?

- Thưa ông chủ - Ông Bân cười to rồi vỗ vỗ vào vai người thanh niên đi cùng đáp lời bằng tiếng Việt - Đây là chú Năm, một người bà con với tôi, chú ấy mới từ trong quê ra để làm nghề dạy học. Xin phép ông chủ cho chú ấy được ở nhờ ít bữa.

- N'hésitez pas (Đừng ngần ngại) - Ông Đuy ô mỉm cười đáp lại bằng tiếng Pháp.

Nắng chang vàng, cái nắng hè nồng nã ấy vậy lại vô cùng dễ chịu khi cả hai bước qua lối cửa nhách ở bên trái ngôi nhà để vào hẳn tầng trệt. Ít nhất là đối với ông bếp Bân bởi ông đang lo là ông chủ không đồng ý. Người thanh niên sau khi đặt chiếc túi đeo vai xuống ghế thì quay sang ông bếp Bân:

- Cảm ơn anh Bân. Anh bố trí chu đáo lắm. Vào đây mát hẳn người anh ạ.

- Chú Năm sẽ ngủ ở đây - ông bếp Bân chỉ tay vào một chiếc phản gỗ - Tuy tôi có nói với ông chủ là chú chỉ tá túc ít ngày nhưng chú có thể ở lâu lâu cũng được - Ông Bân liếc nhìn kiểu đề phòng - Chỉ có điều là chú hạn chế ra ngoài. Càng ít người biết đến sự có mặt của chú trong ngôi nhà này càng tốt. Tôi nói vậy không phải là không tin người Việt mà là ở chỗ người Việt mình tốt quá. Hễ thấy có ai đó mới đến là họ tìm cách lân la làm quen rồi hỏi han, tìm đến hỏi chuyện quê hương.

- Em hiểu rồi. Anh Bân đi lo bếp núc của anh đi.

- Đấy. Nói chuyện bếp núc tôi lại nói thêm. Chú Năm sẽ ăn cùng chúng tôi. Chú không phải lo chuyện cơm nước. Hì hì. Nhà này được cái cũng thoáng với người giúp việc.

*

Sáng hôm sau, anh Năm dậy sớm, thực ra đấy cũng là thói quen lâu nay của anh, làm mấy động tác thể dục ngay trong tầng trệt xong thì anh Năm bước tới khu bếp. Nghe tiếng bước chân đi tới, chị Sen chẳng cần quay lại cũng biết người đang đến là ai. Sớm nay ông Bân đã dặn dò chị.

- Cháu chào ông giáo. Ông giáo không nghỉ thêm chút nữa cho khỏe - Chị Sen lên tiếng hỏi, bàn tay vẫn đều đều lau chùi bệ bếp.

- Ấy chết. Chị Sen gọi như thế không tiện. Chị có việc gì cứ bảo. Tôi không muốn là kẻ ăn chơi ngồi rồi. Tôi còn ít tuổi hơn chị. Chị cứ xưng chị cho gần gụi. Mà chị Sen quê ở đâu nhỉ?

- Cháu quê ở huyện Phụ Dực bên tỉnh Thái Bình ạ.

Anh Năm phì cười, người nhà quê bao giờ cũng thật thà và ăn nói nhường nhịn đến nhún mình. Một thoáng chau mày, anh Năm nghĩ: “Hay là ở quê họ quen bị đè nén mà thành thói quen? Thành bản năng ngay trong cách xưng hô?”.

- Ở quê nhà chị Sen có ruộng không?

- Ấy ông giáo. Nếu nhà có ruộng thì cháu đâu phải đi làm con sen cho người ta.

- Không có ruộng?

- Vâng. Thưa ông giáo. Ở quê cháu chỉ có ông Chánh, ông lý với địa chủ là có ruộng thôi. Người nhà quê làm ruộng thuê của họ. Vụ nào làm xong là bị thu hết thóc.

Anh Năm lặng người. Môi anh cắn chặt. Anh nhớ đến những ngày tháng theo học ở Trường quốc tế Phương Đông bên nước Nga xa xôi. Chính Các Mác đã chứng minh một cách thuyết phục rằng: “Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì chế độ tư hữu về ruộng đất là vô lý nhất và quyền tư hữu về ruộng đất là hoàn toàn vô lý; nói đến quyền tư hữu về ruộng đất chẳng khác gì nói đến quyền sở hữu cá nhân đối với những người đồng loại của mình”. Đây chính là “mâu thuẫn” căn bản nhất đối với xã hội nước ta?

“Người nông dân phải được làm chủ trên chính mảnh ruộng của mình. Phải đánh đổ giai cấp địa chủ cùng những sự đè nén, sự áp bức do chế độ phong kiến đã lạc hậu gây ra đối với người nông dân”.

Anh Năm đứng dậy bước vội tới bàn trà. Anh không rót cốc nước vối mà chị Sen đã ủ sẵn mà cầm vội cây bút mực. Trang giấy trắng ào ạt những dòng chữ mà anh vừa nhận thức được: “Về mâu thuẫn giai cấp ở Đông Dương: Một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ, phong kiến, tư bản và đế quốc chủ nghĩa”.

*

Một sáng chủ nhật. Ông Đuy ô thay vì đứng trước ban-công ngắm phố, ngắm cây, ngắm nắng, thì đích thân ông đi xuống tầng trệt. Rất lịch sự, ông Đuy ô đứng chờ khá lâu sau khi đã gõ mấy nhịp tay vào cánh cửa lối vào nhỏ ngay chân cầu thang. Ông cứ đứng chờ ở đó cho đến khi ông bếp Bân ra mở cửa:

- Bonjour Monsieur. Bonne matinée ! (Chào ông. Chúc ông có một buổi sáng tốt lành).

- Chào bếp Bân. Tôi muốn vào có được không?

- Veuillez venir avec moi (Xin mời đi theo tôi) - Ông Bân nhã nhặn đáp.

- Tôi muốn nói chuyện với người thanh niên hôm trước đã đến cùng ông?

Ông Bân hơi chột dạ, bụng nghĩ nhanh “Không hiểu ông Đuy ô đã có nghi ngờ gì?”. Nghĩ thế nhưng ông Bân vẫn tỏ ra bình tĩnh, ông đứng dịch sang một bên nhường lối cho ông Đuy ô vào hẳn tầng trệt.

- Salut! (Chào bạn).

Ông Đuy ô thể hiện sự thân mật khi vừa giáp mặt anh Năm. Tuy là tầng trệt nhưng nó lại khá rộng và được chia thành nhiều gian nhỏ, những người giúp việc được sắp xếp ở từng gian, do vậy khi nghe tiếng gõ cửa anh Năm đã kịp cất giấu tài liệu rồi đi từ gian dành cho mình ra đón ông chủ.

- Bonjour Monsieur - Anh Năm vui vẻ cất câu chào.

- Je suis content(e) de te voir (Tôi rất vui khi được gặp bạn).

- Je suis content(e) de vous voir (Tôi rất vui khi được gặp ông).

- Chào anh Năm - Ông Đuy ô chuyển sang nói tiếng Việt - Nói chuyện với người An Nam tốt nhất là dùng tiếng của người An Nam.

- Cảm ơn ông đã có nhã ý - Anh Năm vừa nói vừa đi trước, anh dẫn ông Đuy ô tới ngồi bên bàn trà.

- Anh Năm này. Tôi thấy anh không phải là người lao động?

- Vâng. Thưa ông - Anh Năm thoáng phân vân - Như ông đã biết đấy. Tôi là một người dạy học.

- Dạy học. Ô. Bon (Tốt). Anh Năm nói tiếng Pháp rất tốt.

- Cảm ơn ông. Tôi từng học trong trường của người Pháp.

- Anh Năm này - Ông Đuy ô lên tiếng cắt ngang dòng suy nghĩ của anh Năm - Anh nhận xét về người Pháp ở xứ An Nam này thế nào?

Một câu hỏi khó, nếu không muốn nói là rất khó bởi người hỏi lại chính là một người Pháp đang đô hộ người Việt. Nhưng nếu không trả lời khéo, trả lời không thỏa đáng, thì có nguy cơ làm bị lộ thân phận. Anh Năm nở nụ cười để kéo dài thêm thời gian suy nghĩ.

- Chẳng phải chỉ có ở An Nam đâu. Ở bên Pháp cũng có rất nhiều người lao động cực khổ - Ông Đuy ô cười nhạt - Đều là những người vô sản như có lần tôi đã được đọc trên một tờ báo - Ông Đuy ô nhíu mày - Phải rồi. Tờ “Người cùng khổ”. Mà anh Năm biết không? Tờ báo ấy do một người An Nam sáng lập đấy.

Anh Năm ngạc nhiên. Thật không ngờ ông Đuy ô lúc này lại tỏ ra quan tâm đến một vấn đề mà anh đang đau đáu, vấn đề người vô sản ở Việt Nam và ở khắp thế giới. Ở đâu cũng vậy. Người vô sản tuy đông đảo nhất nhưng họ đều là những người cùng khổ nhất.

Trong đầu anh Năm chợt lóe lên suy nghĩ, câu chuyện tưởng như vô tình của ông Đuy ô lại thúc vào tâm trí anh những nhận thức mới: “Vô sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với vô sản thế giới, nhất là vô sản Pháp, với quần chúng cách mạng ở các nước thuộc địa, bán thuộc địa, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ. Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới”.

- À bientôt ! (Hẹn gặp lại) - Ông Đuy ô bất ngờ lên tiếng chào.

- Bon week-end ! (Chúc ông cuối tuần vui vẻ) - Anh Năm đáp lời.

*

Thay cho lời kết.

Sau hơn năm tháng ở trong tầng hầm ngôi biệt thự của ông Đuy ô ở số 7 Rue Jean Soler (nay là nhà số 90 phố Thợ Nhuộm, Hà Nội), một ngày cuối tháng 9 năm 1930, anh Năm, tức đồng chí Trần Phú, được ông Bân đưa ra khỏi ngôi biệt thự, rồi sau đó được tổ chức bố trí bí mật rời Việt Nam. Khi hai người chia tay đồng chí Trần Phú có nói với ông bếp Bân: “Nhờ anh chuyển lời cảm ơn của tôi đến ông Đuy ô. Ông ấy là một người Pháp dễ mến”.

Và từ ngày 14 đến 30 tháng 10 năm 1930, tại Hồng Kông (Trung Quốc) đồng chí Trần Phú đã điều hành Hội nghị thông qua “Luận cương chính trị”, do mình khởi thảo trong thời gian ở trong tầng hầm ngôi biệt thự của ông Đuy ô. Cũng tại Hội nghị này đồng chí Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Có thể bạn quan tâm

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.