Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.

Bên dòng Oka của Yesenin

Điều mà tôi muốn biết nhất, là dòng Oka đó trông như thế nào? Nên gần như lập tức, tôi chạy xuôi xuống những bậc thang dài, những lối đi rải sỏi, hoa cỏ bạt ngàn, những bụi cây lúp xúp và lá vàng trải thảm... để tận mắt nhìn thấy dòng Oka ngay dưới chân mình. Nước trong veo, xanh biếc. Dòng sông êm đềm quá đỗi và vắng lạnh vô cùng.

Trên thảm cỏ ướt, tôi ngồi bệt xuống, ngay bên bến tàu.

Tôi thích những dòng sông, bất kỳ dòng sông nào thuộc về vùng đất nào. Thích sự mải miết của nó, thích sự không bao giờ trở lại của những dòng chảy và thích những ký ức của bao kiếp người gắn liền với sông. Tôi cũng như Yesenin, lớn lên bên bờ một dòng sông. Nó có từ trước khi tôi sinh ra và nó vẫn còn ngay cả khi Yesenin hay tôi không còn trên đời. Dòng Oka nằm tụt dưới chân một ngọn đồi mà trên đó là ngôi làng mà ông ấy đã cất tiếng khóc chào đời cách đây 110 năm.

Bằng một sự sắp xếp vi diệu nào đó, tôi đã đến Konstantinovo vào đúng thời điểm 110 năm ngày sinh của Yesenin và 80 năm ngày mất của ông. Tháng Mười. Tháng đẹp nhất của nước Nga kể từ thành thị tới nông thôn. Con đường quanh co mịn màng xuyên giữa những cánh đồng đất đen và những vạt rừng nối tiếp nhau bạt ngàn, rồi rất lâu rất lâu, sau những quanh co tuyệt đẹp ấy, ngôi làng hiện ra sau khi chúng tôi băng qua một cây cầu nhỏ. Tất cả đều thốt lên: Một ngôi làng như thế này, không sinh ra một nhà thơ như Yesenin mới là chuyện lạ.

So sánh thì thật là khập khiễng, nhưng tôi tự thấy tôi rất giống Yesenin ở tình yêu với quê nhà. Yesenin là nhà thơ nông thôn, cả đời thơ ngắn ngủi ông đã dành những bài đẹp nhất cho quê hương, Tổ quốc. Dù ông đi tới đâu, dù ngay cả khi ông từ giã cuộc đời trong một căn phòng nhỏ ở thành phố St. Petersburg cổ kính, tôi tin chắc một điều, trái tim ông luôn có một góc dành riêng cho quê nhà.

Ngắm dòng Oka yên tĩnh trong cái nắng bất chợt hửng lên sau cơn mưa, hình dung, đã bao lần cậu bé Yesenin ngồi ở đây, ở kia, chân cậu giẫm lên những vạt cỏ hay ngồi đè lên vài viên sỏi nhỏ, ngắm nhìn dòng sông bằng trái tim sớm đơn côi. Trong gia tài Yesenin để lại có một bài thơ tuyệt hay về mẹ, có những câu thế này:

“Người ta viết cho con rằng mẹ

Phiền muộn lo âu quá đỗi về con

Rằng mẹ hay dạo bước ra đường

Khoác tấm áo choàng xưa cũ nát”

(Anh Ngọc dịch)

Tôi đã luôn tự hỏi một câu hỏi về tâm trạng của Yesenin khi ông viết bài thơ này. Người ta nói rằng, tuổi thơ của Yesenin thiếu vắng hơi ấm của mẹ. Cha mẹ ông không hạnh phúc, mẹ ông rời đi và Yesenin sống với bà. Vậy mà ông viết về mẹ vẫn vô cùng tha thiết. Phải chăng, vì quá khát khao, trống rỗng, đơn độc trước tình yêu của mẹ, ông chỉ có thể lấp đầy bằng thơ ca?

41.jpg
Tượng Sergey Yesenin ở trong vườn nhà ông với ngón tay trỏ vàng óng.

Tình yêu, càng khuyết thiếu càng mãnh liệt. Phải thế chăng?

Trong ngôi nhà gỗ nhỏ nhắn mầu trắng, nơi Yesenin được sinh ra, trên tường, trong phòng của mẹ ông, bạn có tin nổi không: Trên đó, treo chiếc “áo choàng xưa cũ nát” của bà. Ngắm chiếc áo “cũ nát” ấy, những vần thơ chạy đi chạy lại trong đầu tôi. Một chiếc áo đã được gìn giữ suốt cả một thế kỷ cùng với ngôi nhà. Trong những căn phòng nhỏ xinh xắn, mọi vật dụng vẫn ở nguyên vị trí của chúng. Những bộ ga trải giường ấm áp, những chiếc gối, ghế tựa... đẹp đẽ và gọn gàng, như thể còn cả hơi ấm và tất nhiên, những dấu vân tay của Yesenin và người thân.

Đối diện nhà ông, cách chừng vài trăm mét là ngôi nhà thờ giản dị, nhỏ bé, nơi Yesenin được làm lễ rửa tội. Cách đấy không xa nữa là ngôi trường nơi cậu đã học tiểu học. Người ta vẫn giữ được học bạ năm lớp Một của Yesenin. Chiếc bảng ghép chữ, bảng tính bằng gỗ, bàn ghế, bảng đen... Tất cả đều còn nguyên vẹn, sạch bóng. Thậm chí có thể hình dung tiếng trẻ con học bài và tiếng những bước chân chúng chạy rầm rập trên sàn khi đến giờ giải lao.

Trời lại lắc rắc mưa, kèm theo gió lạnh. Lá sồi rụng đầy dưới chân tượng Yesenin. Bức tượng đồng rất lớn dựng ngay trong vườn, nơi có lẽ suốt tuổi thơ Yesenin đã chạy nhảy ở đó. Toàn bộ bức tượng mầu đen, riêng ngón tay trỏ phải của ông vàng óng. Vàng là bởi vì ai tới cũng muốn vươn lên nắm lấy nó. Những lọn tóc xoăn nhẹ trên gương mặt tuyệt đẹp của ông sinh động tới nỗi cảm giác gió thổi qua cũng khẽ lay. Hoa tươi đặt đầy dưới chân ông.

Người ta bảo Konstantinovo thời Yesenin sống như thế nào thì bây giờ y như thế.

Du khách trên khắp thế giới ghé đến rồi đi là việc của du khách, còn người làng vẫn sống trong những ngôi nhà hàng trăm năm tuổi và làm nông nghiệp. Những cánh đồng ngô và lúa mì bạt ngàn. Đất đen là đất hiếm, rất giá trị. Nghe nói chỉ việc gieo trồng rồi gặt hái, không cần phải phân bón thì vẫn có những vụ mùa bội thu. Làng vắng người, có lẽ vì lúc tôi đến đang là giờ người ta ngoài đồng. Một người đàn ông lái chiếc xe có cái thùng đằng sau lăn bánh lọc xọc trên đường, một con chó chạy trước ông. Vài người đang sửa mái nhà. Vài người nhổ cỏ trong vườn...

42.jpg
Ngôi nhà gỗ với những ô cửa sổ mầu trắng nơi Yesenin được sinh ra.

Yesenin là một thi sĩ tài hoa và... bạc mệnh. Ông có 3 người vợ, một trong số đó không chính thức. Ông có con. Yesenin, như nhiều nhà thơ trên đời, sống và yêu đến kiệt cùng. Cảm xúc là thứ ông không thể chế ngự. Hẳn rồi, chế ngự được thì ta đâu có Yesenin. Người ta tìm thấy ông đã qua đời trong một căn phòng nhỏ ở St. Petersburg, năm ông tròn 30 tuổi. Một mình. Trùng hợp thay, vài ngày trước đó tôi vừa ở St. Petersburg. Và trong lúc sải bước trên vỉa hè lát đá khi trời còn tối đen buốt giá để đi ra ngắm dòng Neva, tôi cũng đã tự hỏi câu này: Yesenin có từng đi trên lối tôi đang đi và ông ấy để lại những câu thơ cuối cùng buồn bã nhất thế gian này ở đâu trong thành phố này:

“Trên đời này chết là điều chẳng mới,

Nhưng sống thật tình cũng chẳng mới gì hơn” (Anh Ngọc dịch)

Giả sử, à tất nhiên không có chuyện giả sử, Yesenin sống thêm vài thập kỷ nữa, tiếp tục cái cuộc đời vô cùng phức tạp của ông, thì chúng ta sẽ còn có thêm những vần thơ nào nhỉ? Tôi đã cứ tự hỏi như thế đấy.

Tôi chỉ ước mình có thể ở lại ngôi làng của Yesenin một đêm, để đêm thật khuya nghe lá rụng trong vườn, sáng thật sớm nghe tiếng côn trùng cất tiếng hay ngửi mùi thơm bay ra từ ấm trà. Quan trọng hơn thế, để hiểu vì sao Yesenin lại yêu làng quê nhỏ bé của mình đến thế. Về những cây bạch dương, dòng Oka, chiếc cối xay, cánh đồng... những câu thơ đẹp và buồn, buồn và đẹp đến nao lòng của ông về làng quê, Tổ quốc.

Konstantinovo đã tặng cho nhân loại một nhà thơ và Sergey Aleksandrovich Yesenin đã kéo cả thế giới đến ngôi làng của ông, chỉ để ngắm nhìn tất cả những gì còn lại, in dấu Yesenin.

Đang có một nhóm học sinh tiểu học được cô giáo dẫn đến tham quan. Bọn trẻ được ngồi vào lớp học hẳn hoi, cầm bút và cắm cúi viết, cô giáo đứng trên bục giảng. Bọn tôi được phép ngó vào nhưng không được chụp ảnh. Tôi chỉ có thể chụp bức tường treo đầy áo khoác của lũ trẻ. Tất cả đều thì thầm, rón rén. Bọn trẻ đang học y như thật, và có lẽ, trong số các em ấy, vài cô cậu còn muốn làm thơ như Yesenin. Biết đâu đấy, rồi đây lại có thêm một nhà thơ ở Konstantinovo.

Có thể bạn quan tâm

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Minh họa: KIM DUẨN

Màu của Tết

Mùi của Tết thường đến khi gian bếp thơm mùi bánh chưng sôi ùng ục, khi những chiếc áo cũ mẹ mang ra phơi vẫn vương mùi băng phiến, khi mùi trầm ngan ngát theo gió thổi qua mỗi gian nhà. Khi ấy, Tết đã cận kề. Nhưng màu của Tết thì đến sớm hơn nhiều…

Chợ Tết. Ảnh: NGUYỆT ANH

Chợ tháng Chạp

Chợ tháng Chạp không giống bất kỳ phiên chợ nào trong năm. Ngay từ tinh mơ, khi sương còn lẫn vào mùi rơm ẩm và khói bếp, những con đường dẫn về chợ đã lấp ló bóng người.

Hoài niệm. Ảnh: HẢI ANH

Những món đồ ở lại cùng ký ức

Tết lại sắp về. Cái rét cuối năm chưa kịp chạm ngõ đã thấy trong nhà xôn xao chuyện dọn dẹp. Con cháu bảo nhau lau bàn thờ, sắp lại tủ, phân loại đồ đạc: Cái nào dùng, cái nào bỏ, cái nào “cho đi”. Trong danh sách ấy, có rất nhiều thứ mà người trẻ gọi là “đồ cũ”, còn người già thì gọi bằng một cái tên khác: Kỷ niệm.

Phố đông. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bao dung phố mùa đông

Những cơn mưa dầm xuất hiện. Từng cơn gió lạnh ùa khắp các con đường. Mỗi chiều về ngang phố, thoảng nghe tiếng thì thầm của lá, tiếng chim kêu run rẩy. Ở phố, sự có mặt của mùa đông dường như ít nhận ra từ đặc trưng của thiên nhiên mà thường tạo nên bởi rung động, xôn xao của cảm xúc con người.

Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG

Phúc nhà

Mẹ bàn với tôi Tết này xin phép nhà nội, bọn trẻ rồi vợ chồng con cái ở lại ăn Tết với mẹ, có gì để mẹ nói đỡ với ông bà bên ấy một tiếng. Sau bao nhiêu sóng gió vừa xô đến với gia đình tôi, tóc mẹ trắng như cước và lưng mẹ như oằn hẳn xuống.

Kẻ cắp ở cuối làng

Ở quê tôi ngày ấy, cái nghèo không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, mà nó còn tồn tại một thứ định kiến vô hình, tàn nhẫn. Những gia đình sống ở cuối làng, nơi con đường đất cụt ngủn và cỏ dại mọc lút đầu gối, thường mặc nhiên bị coi là "vùng tối" của cả cộng đồng.

Các món chè. Ảnh: NAM NGUYỄN

Nhớ sao vị ngọt ngào thơ ấu

Một sáng cuối tuần, tôi ghé khu chợ nhỏ quen thuộc gần nhà. Đang mải miết suy nghĩ mua nguyên vật liệu gì thì tiếng rao lảnh lót “Ai chè đậu đỏ, đậu đen, đậu xanh, thập cẩm không?” của một người phụ nữ quẩy quang gánh trên vai đã làm tôi khựng lại.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Người khách đến nhà

Nắng tháng 5 dát vàng mái phố. Ngôi biệt thự số 7 Rue Jean Soler nằm ngay góc giao với Rue Jauréguiberry dường như nổi bật thêm lên bởi mầu sơn vàng. Ông Duot Bertheur (Đuy ô), người chủ của ngôi biệt thự, dậy sớm, đứng trên ban-công tầng 2, để ngắm nắng sớm mai.

Nhà khoa học chân chính

Đó là biệt danh lũ chúng tôi đặt cho anh khi mon men lên Thư viện Quốc gia mượn sách. Giữa môi trường tri thức trăm phần trăm, giáo sư, tiến sĩ "đông như quân Nguyên", anh vẫn nổi bật bởi vẻ đắm đuối suy tư những điều cao siêu đến thoát tục.

Ảnh: SONG ANH

Mảnh vườn xưa

Tôi có thói quen khắc số năm sau ngày bà mất lên thanh xà ngang trong nhà vào mùa cây thay lá.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Xóm cầu thang

Cục diện bê-tông hóa đã thiết lập từ cao xuống thấp khi tòa nhà đi vào sử dụng. Cư dân ở đây tuyền ở quê lên, trong ký ức bùn theo chân lên tận giường, “hai xoa, ba đập” khuất mắt trông coi. Họ chỉ mong đoạn tuyệt được với bùn đất để làm người phố ra sáng vào bóng.

Ở Mường Nhé xa xôi cuối trời Tây Bắc chỉ cách đây chưa đầy 2 thập kỷ, con đường đất bằng phẳng thế này đã là mơ ước.

Người chờ trên đỉnh dốc

Đường sá lên cực tây Tổ quốc những ngày còn đang mở rộng và dần hoàn thiện thật sự là thử thách với bất kỳ một tay giang hồ ưa xê dịch nào. Và cái cuộc gặp mặt ăn Tết của Khụ Sự Trà với đồng bào Hà Nhì năm 2013 thật sự là cuộc gặp của nhiều kẻ yêu con người và thiên nhiên mạn ngược.

Mùi ký ức lan tiêu đã chín

Mùi ký ức lan tiêu đã chín

Có những buổi sáng, vừa mở cửa sổ, tôi chợt thấy thoang thoảng một làn hương dịu ngọt như mùi chuối chín. Hóa ra, cây lan tiêu nhà hàng xóm đã vào mùa. Mùi hương ấy không gắt gỏng, chẳng nồng nàn, chỉ như một hơi thở lướt qua.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Ngựa hồng qua dốc mây

Ngày trước tôi đã lỡ cuộc đi bộ với Sương lên đỉnh núi, giờ là lúc tôi hoàn thành việc này, cũng để có cái nói với Sương lúc gặp lại.

Con đường mòn biên giới

Con đường nhỏ bắt đầu bằng một ngã rẽ men theo vườn nhà dân. Một người đàn ông ngồi ngay ngắn bên lối đi, thu của mỗi người qua lại vài đồng lẻ. Nếu không có chỉ dẫn, chẳng ai biết đến con đường này. Dốc mỗi lúc một gắt. Dòng người ngược chiều lặng lẽ đi xuống, lưng oằn gánh hàng, mồ hôi đổ thành vệt trên gò má lạnh.

Ảnh: SONG ANH

Trở lạnh

Tôi nhớ những ngày trời trở lạnh. Gió mùa ập đến như đánh úp, mới buổi sáng còn nắng oi nắng ả mà giữa buổi gió đã lục lọi khắp ngóc ngách trong vườn.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Giấc mơ

Đêm. Thành phố đã ngủ. Thư mơ thấy mình trôi giữa đại dương loa lóa. Giữa vùng nước sâu, buốt lạnh, cô gặp cá voi khổng lồ lững lờ bơi tới. “Ta đã qua hai trăm mùa đông. Ngươi thì muốn sống bao lâu?”, câu hỏi vang vang trong nước. Thư chẳng biết làm gì ngoài mỉm cười. Mà nụ cười chưa kịp tỏa ra cũng đã ngập đầy nước.

Biếm họa nhân vật của họa sĩ Dũng Choai.

Nhà báo “chân quê”

Phòng làm việc của anh ở trong cùng hành lang tầng ba cơ quan mặt trận tỉnh Nam Định cũ. Trên lan-can trước cửa, phía dưới tấm biển văn phòng đại diện đã bạc mầu vì nắng mưa, là chậu hoa nho nhỏ và một cái xô đựng… điếu cày.

Ảnh: BẮC SƠN

Mì quảng bình dân ba sao

Dạo một vòng quanh thành phố Đà Nẵng, những con đường ồn ào, tấp nập của khách du lịch, hầu hết khách sạn, nhà hàng, quán ăn đều đầy ắp bóng người.

Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG

Món quà của ông già Noel

Lâm rời khỏi công ty khi trời đã tối đen. Mùa đông ngày ngắn đêm dài. Mới hơn 5 giờ chiều, hoàng hôn đã ý nhị nhường chỗ cho màn đêm.

Gần 75 tuổi, bà Bài vẫn giữ nguyên “danh hiệu” làm cá giỏi nhất chợ, khách nào ghé cũng khen.

Bà lão ở chợ cá Thanh Hà

Ghé Hội An, ngoài dạo phố cổ ăn mấy món quen, uống ly nước mát, tôi luôn dành thời gian thăm chợ, tìm chút quà quê đem về phố. Lần nọ, lục tục từ 2 giờ sáng, vừa kịp xem cảnh chợ cá Thanh Hà nhộn nhịp bên sông Thu Bồn. Ở đó, tôi gặp bà Bài, người gắn đời mình với nghề bán cá hơn 60 năm ròng.

Xinh xắn những món đồ len Đà Lạt.

Đan những sợi ký ức

Lâu rồi, ngày tôi còn bé thơ, chìm trong cái lạnh bồng bềnh của xứ thông, bên ô cửa những ngôi nhà gỗ lúp xúp, hình bóng những người phụ nữ ngồi đan áo len luôn đem đến cho tôi cảm giác mình là chú ngựa nhỏ dừng chân trên thảo nguyên bình yên.