Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Ảnh: ANH QUÂN
Ảnh: ANH QUÂN

Bà tôi hồ hởi: “Lâu lâu phải giải ngố!”. Tôi lạ lắm, vì đứng giữa chợ đó, tôi cũng nhìn thấy những dãy núi thật cao chung quanh, dù ở phía xa xa. Lớn dần, tôi quen với khái niệm mọi người gọi làng tôi là “trong rừng” và gọi dân làng chúng tôi là “người rừng”.

Nơi chôn nhau cắt rốn của tôi là một ngôi làng nằm lọt thỏm giữa bốn bề là rừng núi như bát úp nối đuôi nhau. Ông bà tôi kể, trước đời cụ tôi ở ngoài thị trấn nhưng người đẻ thêm người trong khi đất không đẻ, thúng hến thúng trai buôn đi bán lại của bà nội tôi không đủ nuôi sáu miệng ăn nên cả đại gia đình khăn gói quả mướp vào rừng khai hoang canh tác, làm rẫy lợp nhà.

Chỉ có một con đường lớn độc đạo chạy từ cổng làng tới cuối làng. Nhà tôi nằm cuối đường, hẻo lánh nhất giữa ngôi làng hẻo lánh. Nếu vẽ một bức tranh phong cảnh làng tĩnh thì chắc sẽ hơi đơn điệu vì chỉ thấy phủ lên một màu xanh thẫm của rừng và những chấm nhỏ nóc nhà lợp ngói fibro xi-măng trăng trắng. Nhưng nghệ thuật và thực tế luôn có khoảng cách mà! Chúng tôi đã sống một cuộc đời vô cùng sôi động, ấm áp, nhiệt thành ở ngôi làng đó và luôn biết ơn rừng.

Rừng ngày trước là “cần câu cơm” của người làng tôi, trong đó có ông bà, bố mẹ tôi. Khi năng suất của những mảnh ruộng bậc thang nhỏ còn thấp, chẳng đủ thổi đầy nồi cơm ngày ba bữa, ông bà tôi cặm cụi vào rừng từ sáng tới đêm hết chặt củi, chặt gỗ lại hái cây thuốc về băm chặt mang ra chợ huyện bán. Sau đó, người dân được nhà nước giao đất giao rừng, ý thức bảo vệ rừng tốt hơn. Nhà nhà tích cực trồng keo, bạt thông mã vĩ, liễu, bạch đàn… để có nguồn thu chủ động.

Ngoài giờ học, hai chị em tôi tíu tít như cái đuôi theo bố mẹ đi lên rừng làm đủ việc: Trồng cây, phát đường băng… Mỗi buổi lên rừng vạc thông hay đổ nhựa thông, chúng tôi vui không kém gì được ra chợ phố. Buổi trưa cả nhà nghỉ chân giữa rừng, ăn cơm nắm muối vừng, hấp mì ăn liền nóng lấy nước chan cơm. Chị em tôi gọi đó là dã ngoại. Rừng dù nắng hay mưa ẩm thì muỗi lúc nào cũng từng như tập đoàn. Hở chỗ nào là bị chích chỗ đó. Đường rừng dốc, lối nhỏ quanh co, có chỗ phải rẽ cây lá mà đi. Áo bố mẹ lúc nào cũng ướt đẫm, cảm tưởng có thể vắt ra được mồ hôi. Vất vả trăm đường nhưng hai người vẫn cứ bán cả mặt lẫn lưng cho rừng từ ngày này qua tháng khác không một lời kêu than. Bởi rừng là nghề, là nghiệp, là kế sinh nhai của nhà tôi, như bao nhà khác ở làng.

Sự bao dung của rừng không chỉ dành cho người lớn mà còn đặc biệt dành cho con nít chúng tôi. Nếu câu cửa miệng của chúng tôi là “Đi chơi đi” thì chắc chắn 99% chỗ chơi đó là trên rừng. Rừng có nhiều lau sậy để chúng tôi đánh trận giả, có nhiều lá bứa với me rừng ngon xuýt xoa, có nhiều bãi sim quả chín to mọng như bụng con trâu. Những buổi trưa chúng tôi trốn bố mẹ lên rừng hái lá lợp nhà, hái hoa rừng chơi nấu ăn, tiếng cười, tiếng nói dội vào tán lá, làm thức giấc những bầy chim.

Cuộc sống của nhiều thế hệ cứ tiếp nối dưới tán rừng như thế. Hũ gạo trong nhà cứ vơi lại đầy. Những đứa con của các bố mẹ chợt lớn phổng lúc nào không biết. Có đứa chọn bay khỏi rừng để “ra phố” như tôi, theo đuổi những chân trời mới nhưng lòng vẫn đau đáu nhớ những cánh rừng mỗi đêm. Nhưng cũng có những đứa chọn ở lại, như em gái tôi, lấy chồng trong làng, hai vợ chồng tiếp tục bám rừng làm kế sinh nhai và truyền tình yêu “rừng vàng biển bạc” lớn lao cho đời kế tiếp.

Kiếp người phong ba, thế gian xoay vần. Nhưng xuân hạ thu đông, rồi sẽ lại xuân. Rừng đổi sắc qua bao mùa lá thì vẫn sẽ luôn ước hẹn màu xanh ngát. Rừng bao dung người ở lại. Và cũng mở rộng vòng tay chào đón những trái tim quay về.

Có thể bạn quan tâm

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.

Minh họa: KIM DUẨN

Màu của Tết

Mùi của Tết thường đến khi gian bếp thơm mùi bánh chưng sôi ùng ục, khi những chiếc áo cũ mẹ mang ra phơi vẫn vương mùi băng phiến, khi mùi trầm ngan ngát theo gió thổi qua mỗi gian nhà. Khi ấy, Tết đã cận kề. Nhưng màu của Tết thì đến sớm hơn nhiều…

Anh Hiển (hàng dưới) chụp hình lưu niệm cùng du khách tại homestay của mình.

Chuyện của Hiển

Ngồi ngẫm lại chuyện gần 10 năm trước, Dương Vĩnh Hiển, chủ homestay HT Ánh Trung tại Làng Văn hóa Du lịch Cộng đồng Dân tộc H'Mông (xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang) vẫn thấy mình “Sao liều thế!”.

Chợ Tết. Ảnh: NGUYỆT ANH

Chợ tháng Chạp

Chợ tháng Chạp không giống bất kỳ phiên chợ nào trong năm. Ngay từ tinh mơ, khi sương còn lẫn vào mùi rơm ẩm và khói bếp, những con đường dẫn về chợ đã lấp ló bóng người.

Hoài niệm. Ảnh: HẢI ANH

Những món đồ ở lại cùng ký ức

Tết lại sắp về. Cái rét cuối năm chưa kịp chạm ngõ đã thấy trong nhà xôn xao chuyện dọn dẹp. Con cháu bảo nhau lau bàn thờ, sắp lại tủ, phân loại đồ đạc: Cái nào dùng, cái nào bỏ, cái nào “cho đi”. Trong danh sách ấy, có rất nhiều thứ mà người trẻ gọi là “đồ cũ”, còn người già thì gọi bằng một cái tên khác: Kỷ niệm.

Phố đông. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bao dung phố mùa đông

Những cơn mưa dầm xuất hiện. Từng cơn gió lạnh ùa khắp các con đường. Mỗi chiều về ngang phố, thoảng nghe tiếng thì thầm của lá, tiếng chim kêu run rẩy. Ở phố, sự có mặt của mùa đông dường như ít nhận ra từ đặc trưng của thiên nhiên mà thường tạo nên bởi rung động, xôn xao của cảm xúc con người.

Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG

Phúc nhà

Mẹ bàn với tôi Tết này xin phép nhà nội, bọn trẻ rồi vợ chồng con cái ở lại ăn Tết với mẹ, có gì để mẹ nói đỡ với ông bà bên ấy một tiếng. Sau bao nhiêu sóng gió vừa xô đến với gia đình tôi, tóc mẹ trắng như cước và lưng mẹ như oằn hẳn xuống.

Kẻ cắp ở cuối làng

Ở quê tôi ngày ấy, cái nghèo không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, mà nó còn tồn tại một thứ định kiến vô hình, tàn nhẫn. Những gia đình sống ở cuối làng, nơi con đường đất cụt ngủn và cỏ dại mọc lút đầu gối, thường mặc nhiên bị coi là "vùng tối" của cả cộng đồng.

Các món chè. Ảnh: NAM NGUYỄN

Nhớ sao vị ngọt ngào thơ ấu

Một sáng cuối tuần, tôi ghé khu chợ nhỏ quen thuộc gần nhà. Đang mải miết suy nghĩ mua nguyên vật liệu gì thì tiếng rao lảnh lót “Ai chè đậu đỏ, đậu đen, đậu xanh, thập cẩm không?” của một người phụ nữ quẩy quang gánh trên vai đã làm tôi khựng lại.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Người khách đến nhà

Nắng tháng 5 dát vàng mái phố. Ngôi biệt thự số 7 Rue Jean Soler nằm ngay góc giao với Rue Jauréguiberry dường như nổi bật thêm lên bởi mầu sơn vàng. Ông Duot Bertheur (Đuy ô), người chủ của ngôi biệt thự, dậy sớm, đứng trên ban-công tầng 2, để ngắm nắng sớm mai.

Nhà khoa học chân chính

Đó là biệt danh lũ chúng tôi đặt cho anh khi mon men lên Thư viện Quốc gia mượn sách. Giữa môi trường tri thức trăm phần trăm, giáo sư, tiến sĩ "đông như quân Nguyên", anh vẫn nổi bật bởi vẻ đắm đuối suy tư những điều cao siêu đến thoát tục.