Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG
Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Lên mâm cơm, quý giá gì món “mướp hương xào nấm mèo” mà cứ gắp cho nhau? Chợ đầy nấm lộc nhung, nấm hương, nấm đông cô, nấm đùi gà, nấm kim châm… sao không ăn cho xứng với sự giàu có của chú thím? Đi cà-phê gì mà phải vợ pha cho chồng rồi còn nếm thử xem vừa miệng chồng chưa…

Người ta bảo “sến” vì người ta không biết chú thím tôi đã từng có một quá khứ nghèo khổ khó khăn đến tận cùng.

*

Hồi đó nấm mèo không mua ở chợ như bây giờ, mà là tự thu hái được trong vườn nhà hoặc dễ hái nhất là trên các thân cây hoặc cành cao su. Vào mùa mưa, nấm mèo tự nhiên cứ mọc lên từ những thân cây ngã đã mục. Người đi ruộng đi vườn cứ thấy và tự nhiên hái về làm bữa cho mâm cơm của vợ chồng nghèo.

Chú thím tôi là những người nông dân siêng năng đầy tính chắt chiu như vậy. Mướp hương trồng theo rào nhà, nấm mèo thì hái trên những thân cây nào đó để tiết kiệm chi phí gia đình. Ngày ra vườn ra ruộng, chiều về hái một mớ nấm, một bó bông súng, hoa lục bình, rau chốc rau hẹ cùng vài con cá rô, cá lóc được giăng câu thả lưới là đã thành bữa cơm gia đình rồi.

Khiếm khuyết của chú tôi là bị mất thính giác từ sau một lần trèo cây té ngã ở tuổi thiếu niên. Chả cô nào dám ưng một “ông điếc” làm chồng. Mãi đến khi chú tôi ba mươi bảy tuổi thì người ta làm mai một cô gái lỡ thời, bị tật sứt môi. Việc đầu tiên sau đám hỏi là chú tôi đưa vợ sắp cưới đi vá môi cho cô dâu tương lai được xinh đẹp trọn vẹn.

Thím Sáu về với người chồng bị điếc nhưng chồng hết lòng thương yêu, chú đã có nhà riêng, có bốn công ruộng, một khu vườn đầy cây ăn trái cho thím đủ một giang sang riêng của vợ chồng mới cưới.

Nhưng chú tôi có tật mỗi lần uống rượu là uống đến “xuồng chìm tại bến” khiến thím rất lo lắng. Vì chồng khiếm thính nên bao lời vợ nói đều như nước đổ lá môn, còn chữ viết thì chú không đọc được.

Làm sao để chồng hiểu lòng vợ mà bớt nhậu đây? Vậy là bà nội tôi phải vào cuộc. Tuy nội ở với chú Út nhưng chú Sáu luôn nghe lời nội như đứa trẻ lên ba nghe lời mẹ vậy. Thế là dạo đó đâu gần ba tháng, nội lên nhà chú Sáu ở bằng cụm từ “má tới chơi với vợ chồng bây”.

Trái lại với nhiều nàng dâu có mẹ chồng đến chơi dài ngày là cảm thấy ngột ngạt. Thím Sáu tôi ngày ba bữa cơm thơm canh dẻo cho mẹ chồng. Có đi ruộng thì thím cũng về sớm để mang cá ra về nấu nướng cho mẹ chồng những bữa cơm thật thơm ngon.

Trái cây đầy vườn thì thím hái xuống “mời má ăn” nhưng mít mật cả trái to, sơ ri rổ rổ, mận chín rụng đầy gốc, thơm chín vàng ươm… làm sao nội ăn cho hết? Vậy là nội nấu chè trái cây, cái món thập cẩm trái cây ấy, thêm tí đường mía, rồi múc vào ca, thêm tí nước đá là bao nhiêu mệt nhọc đều tan biến sau những tiếng nhai lạo xạo.

Trong những buổi chiều bên nhau cùng ca “chè trái cây” mà cô con dâu không tham gia vì lý do “con mắc nấu cơm” ấy. Không biết nội tôi đã nói gì với con trai nhưng từ đó về sau chú Sáu không còn uống rượu như uống nước lã nữa.

*

Cuối năm đó, thím tôi sinh con gái đầu lòng trong niềm vui vô cùng của vợ chồng mới cưới. Bé được đặt tên là Ngọc Vui như là một viên ngọc mang niềm vui đến cho gia đình vậy.

Vậy mà khi bé Vui giáp thôi nôi thì sau một lần phụ người hàng xóm sửa nhà, chú Sáu tôi đã bị cây cột ngã trúng chấn thương đầu và không tỉnh lại. Nội tôi tuổi sáu mươi mà qua một đêm mái tóc bỗng trắng như mây, nội như pho tượng ngồi nhìn đứa con chưa bốn mươi mà đã sống đời thực vật.

Rồi nội không ở với chú Út nữa, mà dọn lên nhà chú Sáu để ngày đêm phụ giúp con dâu làm việc nhà, chăm sóc đứa con trai đang nằm một chỗ, chăm luôn cô cháu gái vừa chập chững đi.

Dạo đó thím Sáu tôi như một siêu nhân, vừa làm ruộng vừa giăng câu thả lưới, hái thêm rau sông rau đồng để bữa cơm gia đình không thiếu chất. Nội tôi không chỉ chăm con cháu mà còn mua trúc về đan rổ, đan nong, nia, giần, sàng… để kiếm thêm thu nhập phụ con dâu. Ngày của nội và thím Sáu tôi kết thúc gần mười hai giờ đêm nhưng phải bắt đầu từ bốn giờ sáng khi tiếng ụm ò đi ngang qua cửa. Gà đồng loạt gáy là nội đã nấu nước nóng lau mình cho chú Sáu, thím phụ mẹ chồng di chuyển chồng qua phía bên kia giường để tiện việc vệ sinh. Rồi thím cùng gà-mên cơm vác cuốc ra đồng…

Hồi đó trẻ em không phải đi học mẫu giáo như bây giờ nên bé Vui cứ ở nhà quanh quẩn bên bà nội. Biết đi biết nói rành rồi thì nội còn nhờ bé lấy cái khăn, cái áo của cha để bà thay cho cha của bé.

Có lẽ tình mẫu tử, tình gia đình đã thấu lòng trời nên sau hai năm sống đời thực vật thì tay chân chú Sáu tôi cử động được, tri giác bắt đầu nhận thức được dù chuyện nhớ ít hơn chuyện quên. Nhưng đó là chuyển biến tốt lắm rồi.

Vậy là thím Sáu lại một phen đưa chồng đi bệnh viện phục hồi chức năng để mong tìm lại người chồng khỏe mạnh ngày nào. Ở bệnh viện ba tháng ròng rã, chú tôi đã có thể bước đi chập chững. Bác sĩ khuyên hãy đưa bệnh nhân về nhà, dùng cây làm một giàn tập thế này… thế này… cho bệnh nhân tập đi.

Thân gầy như cánh vạc của thím Sáu vậy mà đã dìu được chồng qua những buổi tập đi mướt mồ hôi, mệt nhoài cả thể xác lẫn tinh thần. Nội tôi thì nấu những chén cháo đầy dinh dưỡng từ những con lóc con trê mà con dâu mang về từ kênh, mương. Những ngọn rau chùm ngây, bình bát, bồ ngót, mồng tơi, mướp hương quanh rào cũng thành món ăn hàng bữa cho người bệnh nhanh hồi phục.

Sau một năm mẹ và vợ dìu từng bước chân thì chú Sáu tôi đã có thể đi trên đôi chân của chính mình mà không cần lần tay vịn!

Ôi nụ cười và nước mắt đan xen của thím Sáu tôi lúc đó, chỉ có người trong cảnh từng phải chăm người thân bệnh tật qua từng ngày từng giờ mới hiểu được.

*

Giọng thím tôi run vì mừng khi đối diện cha tôi: “Anh Năm… anh Năm ơi… hôm nay chồng em đã tự đi được rồi. Em mừng quá… nhưng ảnh đòi ăn gà luộc mà em thì… không còn tiền… Em muốn mượn anh…”.

Giọng cha tôi buông cái ống nước đang tưới, giọng đầy vui mừng: “Khỏi mượn, anh cho luôn, cảm ơn thím đã chăm sóc nó mấy năm nay, đây cầm một triệu về đi chợ đi. Anh cũng xuống liền đây!”.

Nội tôi ôm con dâu mà rơi những giọt nước mắt vui mừng, rằng cảm ơn con đã hết lòng vì chồng nên con trai má mới khỏe lại. Thím Sáu cũng quẹt nước mắt, nói: “Con phải cảm ơn má mới đúng hơn, má ở với chú Út an nhàn biết mấy mà vì chồng con bệnh mà phải về nhà con để thức khuya dậy sớm phụ con…”.

Sau ba năm này thì sức khỏe nội tôi không còn tốt nữa, nhưng nội nhất quyết về lại nhà chú Út vì “giàu út ăn/khó út chịu” chứ không ở lại nhà chú Sáu.

Thím Sáu năn nỉ không được nên chỉ còn cách mỗi trưa sau buổi ra đồng thì chạy ào đến nhà nội, để kho chảo cá, giặt giũ mớ quần áo của nội phụ thím Út. Công việc đó có thể với người khác chỉ cần làm nhoáng là xong. Nhưng nếu ai trong hoàn cảnh của thím tôi, sáng bốn giờ đã dậy cơm nước chuẩn bị ra đồng, trưa không được nghỉ ngơi mà phải đạp xe đi 4-5 km (thím không biết chạy xe máy) để phụ chăm sóc mẹ chồng hết buổi trưa. Rồi trở về nhà mình làm việc buổi chiều thì thật là chỉ có siêu nhân mới làm được như vậy mà thôi.

Ngày nội tôi tiên du, cũng gần chín mươi chứ ít đâu. Vậy mà thím Sáu - đứa con dâu cũng ngoài sáu mươi - lại là người khóc nhiều nhất, khóc đến đôi mắt sưng vù đỏ quạch.

Cha tôi trầm trầm: “Thôi vợ thằng Sáu à, em thương má ai cũng biết. Nhưng em phải lo cho sức khỏe mình và chồng con nữa. Bây khóc quá lỡ thành thầy bói mù thì chỉ có nước xem voi thôi chứ hết ruộng vườn gì được à nghen!”.

Nghe cha tôi khuyên đầy tếu táo như vậy nên thím không khóc nữa. Chỉ là im lặng không nói lời nào suốt ba ngày tang sự.

*

Bây giờ chú thím tôi đã ngoài bảy mươi, ông chồng vẫn khiếm thính như ngày nào, nhưng tay chân thì đã đi lại bình thường, làm một số việc nhà, nấu cơm rửa chén và chở cháu đi học. Thím Sáu thì vẫn cần mẫn ngày đi ruộng hai buổi, chỉ là bây giờ ruộng đã biến thành vườn. Khu này trồng nhãn, khu kia trồng tắc, trồng chanh, trồng chuối… Hàng rào gia đình chú tôi vẫn thả vài dây mướp hương cho lúc lỉu trái và bữa cơm của chú thím vẫn giữ món “mướp hương xào nấm mèo” như mấy chục năm qua.

Cha tôi nói đó là nhờ thím Sáu bây tốt bụng chăm chồng hết lòng nên ông trời ngó lại cho chú phước lành mà trở về từ cửa tử chứ người ta bao cảnh như vậy đều “lên đường” hết cả rồi.

Thím Sáu thì thi thoảng ghé nhà cha tôi để biếu mớ chanh tắc, mớ chuối nhãn cho anh Năm “ăn lấy thảo”. Vì hồi đó không nhờ anh trợ cấp hàng tháng thì ba năm anh Sáu nằm bệnh chắc có nước em đi ăn mày luôn!

Cha tôi cước nhuộm mái đầu cười rung rinh thằng tiền đạo còn lại duy nhất cảm ơn cô em dâu khéo ăn nói, khéo nhớ chuyện xưa mà rằng “Thôi bây ơi, tao là anh của nó, không giúp vợ chồng bây thì giúp ai”.

Gần năm mươi năm làm vợ, thím Sáu tôi đã trọn đạo không chỉ với chồng mà còn đầy ân tình với cả gia đình chồng. Hỏi đời này còn mấy người được như thím ấy?

Có thể bạn quan tâm

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.

Minh họa: KIM DUẨN

Màu của Tết

Mùi của Tết thường đến khi gian bếp thơm mùi bánh chưng sôi ùng ục, khi những chiếc áo cũ mẹ mang ra phơi vẫn vương mùi băng phiến, khi mùi trầm ngan ngát theo gió thổi qua mỗi gian nhà. Khi ấy, Tết đã cận kề. Nhưng màu của Tết thì đến sớm hơn nhiều…

Anh Hiển (hàng dưới) chụp hình lưu niệm cùng du khách tại homestay của mình.

Chuyện của Hiển

Ngồi ngẫm lại chuyện gần 10 năm trước, Dương Vĩnh Hiển, chủ homestay HT Ánh Trung tại Làng Văn hóa Du lịch Cộng đồng Dân tộc H'Mông (xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang) vẫn thấy mình “Sao liều thế!”.

Chợ Tết. Ảnh: NGUYỆT ANH

Chợ tháng Chạp

Chợ tháng Chạp không giống bất kỳ phiên chợ nào trong năm. Ngay từ tinh mơ, khi sương còn lẫn vào mùi rơm ẩm và khói bếp, những con đường dẫn về chợ đã lấp ló bóng người.

Hoài niệm. Ảnh: HẢI ANH

Những món đồ ở lại cùng ký ức

Tết lại sắp về. Cái rét cuối năm chưa kịp chạm ngõ đã thấy trong nhà xôn xao chuyện dọn dẹp. Con cháu bảo nhau lau bàn thờ, sắp lại tủ, phân loại đồ đạc: Cái nào dùng, cái nào bỏ, cái nào “cho đi”. Trong danh sách ấy, có rất nhiều thứ mà người trẻ gọi là “đồ cũ”, còn người già thì gọi bằng một cái tên khác: Kỷ niệm.

Phố đông. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bao dung phố mùa đông

Những cơn mưa dầm xuất hiện. Từng cơn gió lạnh ùa khắp các con đường. Mỗi chiều về ngang phố, thoảng nghe tiếng thì thầm của lá, tiếng chim kêu run rẩy. Ở phố, sự có mặt của mùa đông dường như ít nhận ra từ đặc trưng của thiên nhiên mà thường tạo nên bởi rung động, xôn xao của cảm xúc con người.

Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG

Phúc nhà

Mẹ bàn với tôi Tết này xin phép nhà nội, bọn trẻ rồi vợ chồng con cái ở lại ăn Tết với mẹ, có gì để mẹ nói đỡ với ông bà bên ấy một tiếng. Sau bao nhiêu sóng gió vừa xô đến với gia đình tôi, tóc mẹ trắng như cước và lưng mẹ như oằn hẳn xuống.

Kẻ cắp ở cuối làng

Ở quê tôi ngày ấy, cái nghèo không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, mà nó còn tồn tại một thứ định kiến vô hình, tàn nhẫn. Những gia đình sống ở cuối làng, nơi con đường đất cụt ngủn và cỏ dại mọc lút đầu gối, thường mặc nhiên bị coi là "vùng tối" của cả cộng đồng.

Các món chè. Ảnh: NAM NGUYỄN

Nhớ sao vị ngọt ngào thơ ấu

Một sáng cuối tuần, tôi ghé khu chợ nhỏ quen thuộc gần nhà. Đang mải miết suy nghĩ mua nguyên vật liệu gì thì tiếng rao lảnh lót “Ai chè đậu đỏ, đậu đen, đậu xanh, thập cẩm không?” của một người phụ nữ quẩy quang gánh trên vai đã làm tôi khựng lại.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Người khách đến nhà

Nắng tháng 5 dát vàng mái phố. Ngôi biệt thự số 7 Rue Jean Soler nằm ngay góc giao với Rue Jauréguiberry dường như nổi bật thêm lên bởi mầu sơn vàng. Ông Duot Bertheur (Đuy ô), người chủ của ngôi biệt thự, dậy sớm, đứng trên ban-công tầng 2, để ngắm nắng sớm mai.

Nhà khoa học chân chính

Đó là biệt danh lũ chúng tôi đặt cho anh khi mon men lên Thư viện Quốc gia mượn sách. Giữa môi trường tri thức trăm phần trăm, giáo sư, tiến sĩ "đông như quân Nguyên", anh vẫn nổi bật bởi vẻ đắm đuối suy tư những điều cao siêu đến thoát tục.

Ảnh: SONG ANH

Mảnh vườn xưa

Tôi có thói quen khắc số năm sau ngày bà mất lên thanh xà ngang trong nhà vào mùa cây thay lá.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Xóm cầu thang

Cục diện bê-tông hóa đã thiết lập từ cao xuống thấp khi tòa nhà đi vào sử dụng. Cư dân ở đây tuyền ở quê lên, trong ký ức bùn theo chân lên tận giường, “hai xoa, ba đập” khuất mắt trông coi. Họ chỉ mong đoạn tuyệt được với bùn đất để làm người phố ra sáng vào bóng.

Ở Mường Nhé xa xôi cuối trời Tây Bắc chỉ cách đây chưa đầy 2 thập kỷ, con đường đất bằng phẳng thế này đã là mơ ước.

Người chờ trên đỉnh dốc

Đường sá lên cực tây Tổ quốc những ngày còn đang mở rộng và dần hoàn thiện thật sự là thử thách với bất kỳ một tay giang hồ ưa xê dịch nào. Và cái cuộc gặp mặt ăn Tết của Khụ Sự Trà với đồng bào Hà Nhì năm 2013 thật sự là cuộc gặp của nhiều kẻ yêu con người và thiên nhiên mạn ngược.