“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN
Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

Người Thái Tây Bắc đôi khi phát âm biến điệu khẩu thành kháo, lắp thành láp, nhưng cái hồn cốt của câu nói thì vẫn vậy: Đời người thiếu đi miếng mặn, thiếu đi hơi ấm thì thật là khổ thân.

Mùa đông năm 1991, tôi lên trường của chị gái đang dạy học rồi tìm vào thôn Chiềng Cà (xã Thanh Quân). Tôi đi chỉ vì cái tên Chiềng Cà nghe sao mà lạ lẫm, xa xôi quá.

Ở đó, tôi trọ trong một ngôi nhà sàn nhỏ hai gian. Nhà được dựng bằng những thân cây rừng nhỏ, chia đôi theo chiều ngang: Một nửa lát sạp nứa làm giường, nửa còn lại, đất nện làm bếp. Nhà không chuồng trại, chỉ có nương sắn và ít lúa khô. Chủ nhân, anh Lương Văn Quyết và chị Lục Thị Thình - một cặp đôi hoàn cảnh!

Chị Thình quê Thường Xuân, từng học trường nội trú, được để tóc dài, chân đi dép lê. Nhưng tình yêu lớp 9 (lớp 11 bây giờ) đã để lại một hình hài, khiến chị phải rời trường về bản sinh con. Ở bản cũ, không ai chấp nhận lấy người phụ nữ như vậy. Anh Quyết thì nghèo đến mức chẳng đủ tiền sính lễ để hỏi vợ ở bản mình. Vậy, họ gặp nhau, anh dắt chị về, dựng nếp nhà nhỏ này. Đứa con gái đầu lòng đã 11 tuổi, đứa con trai 5 tuổi, dù họ mới chỉ chính thức về chung một nhà được 6 năm.

Đêm đầu tiên ở Chiềng Cà, tôi nằm trong tấm chăn mỏng, lạnh vùng cao cứ thế len qua kẽ nứa, rít lên từng hồi. Sáng ra, bầu trời như tấm chăn xám, lạnh lẽo. Chị Thình chạy về, mắt sáng lên thông báo có vết chân dúi trên núi sau nhà. Anh Quyết dẫn tôi lên đào, nhưng kết quả chỉ hố đất trống trơn. Để xua đi cái cảm giác hụt hẫng, cái lạnh tái tê, tôi mang hai chai rượu, món quà chị gái chuẩn bị sẵn, ra mời anh Quyết.

Bữa nhậu đêm đó, một ký ức mà đến giờ tôi vẫn thấy mặn đầu lưỡi. Anh em anh Quyết ngồi quây quần bên bếp lửa. Mồi nhắm là mấy con cá lẹp khô tôi mang theo, được chị Thình hòa nước muối kho mặn. Rau cải úa vàng chị vừa hái ngoài nương, chỉ kịp cắt gốc, rửa qua rồi ăn sống. Nồi canh bồi cũng được nấu tận dụng từ cái chảo vừa kho cá, loáng thoáng chút đầu cá rụng ra và vị mặn còn sót lại.

Lần đầu tiên uống rượu, cái cảm giác cay đắng xộc tận đỉnh đầu. Nhìn xuống mâm, tôi thấy chị Thình đã ăn hết khẩu phần hai con cá khô của mình. Cơm vẫn còn, bụng chưa yên, chị cứ thế véo từng cục cơm nhỏ, quẹt đi quẹt lại vào chiếc đĩa đựng cá đã hết từ lâu. Chị quẹt nhiều lần, như một thói quen cần chút vị mặn, chút mùi cá để đưa cơm cho trôi. Cái quẹt ấy không chỉ là cái quẹt của miếng ăn, mà đời nghèo khó hằn lên từng cử chỉ.

Lúc chia tay, anh Quyết vỗ vai tôi cười: Về nhà lấy vợ đi em, tối ngủ cho ấm. Câu nói của anh, vận vào câu tục ngữ của người Thái, bỗng thấy thật thà và ấm áp lạ lùng.

10 năm sau trở lại, đường sá đã dễ đi hơn, anh chị đã lên chức ông bà. Tôi ghé Chiềng Cà vào những ngày giáp Tết. Ngôi nhà sàn nhỏ bằng cây rừng năm xưa đã được thay bằng ngôi nhà xây. Anh chị đã có cháu nội bế bồng. Anh Quyết vẫn gầy, cười hiền như đất. Anh hỏi tôi câu cũ, nhưng nay đã khác: Con của em mấy đứa, lớn chưa? Tôi lắc đầu: Bo mí (không có). Tôi nhìn ra phía núi sau nhà nơi từng có vết chân dúi. Cuộc đời chị Thình đã không còn phải quẹt đĩa trống để ăn cơm, tiếng cười con trẻ đã lấp đầy những khoảng lặng. Và câu nói về hơi ấm của anh Quyết như một nỗi chưa trọn vẹn mà tôi vẫn mang theo.

Có thể bạn quan tâm

Sau hơn 10 năm hoạt động, nhà sách cuối cùng trong hệ thống Cá Chép phải nói lời tạm biệt Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng lặng giữa phố

Ly trà đặt nhẹ trên bàn, chưa kịp phả hơi lạnh vào lòng tay khách, giọng của nữ quản lý đã nhuốm màu buồn bã: “Hôm nay ngồi thật lâu nha! Hai ngày nữa thôi, quán phải ngưng, thay đổi mô hình”. Tiếng thở dài thật khẽ, đủ để khách và quản lý quán cùng vấn vương, không làm phiền những người còn lại.

Sách cũ. Ảnh: NAM ANH

Tiệm sách cũ phố Cát Cụt

Hiệu sách cũ nằm ở phố Cát Cụt của Hải Phòng, nơi mà nếu người ta không để ý, sẽ dễ dàng đi ngang qua, chẳng hề hay biết mình vừa bỏ lỡ một thế giới khác.

Làng chài Sê San.

Sau cuộc rong ruổi của những người ly hương

Ngược dòng thời gian về những năm 2000, ngư dân nghèo vùng sông nước An Giang dắt díu nhau lên Tây Nguyên làm thuê. Trong những ngày tháng rong ruổi đầy gian truân ấy, họ vô tình tìm thấy lòng hồ thủy điện Sê San 4. Mặt nước mênh mông, tĩnh lặng như đánh thức bản năng sông nước của những người con sinh ra từ dòng sông Hậu.

Củi thông đun bếp.

Lửa thông

Gió từ núi đi ngang ngôi nhà ngai ngái mùi gỗ giữa những vườn rau mãn vụ.

Minh họa: HOÀNG NGUYÊN THẠCH

Mầm cây đợi

Con đường độc đạo từ bản đến trường ướt nhấm nhoét. Đất đá tở ra từng tảng, thi thoảng có những hộc đá lăn xuống chặn ngang đường. 

Sống đời phu cơm

Quốc Anh, 40 tuổi, mỗi sáng ra khỏi nhà cùng một chiếc điện thoại sạc đầy, một bình nước lọc, cái áo khoác bạc màu vì nắng, và chiếc hộp đựng đồ ăn vuông vức treo trước xe như hòm thuốc của một ông lang. Anh không chữa bệnh. Anh chữa đói. Mà đói ở phố bây giờ là thứ bệnh cấp tính, phát lên rất nhanh, đòi cấp cứu trong 15 phút.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Drama mang tên thanh xuân

Hoan đến chỗ hẹn sớm 10 phút. Khoảng thời gian đó đủ để tâm trạng bình ổn. Bởi vì người hẹn cô hôm nay là anh. Người của một thời tha thiết. Người mà cô đã hơn 20 năm không gặp, thậm chí hoàn toàn bặt tin.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những ngã ba đời

Tôi tới căn nhà anh thuê ngay đầu phố Lý Nam Đế (Hà Nội) bởi một sự tình cờ. Ngồi lại lai rai vài ly cũng chẳng phải có hẹn mà nên. Nhưng tôi cứ nhớ mãi cái khung hình có dòng chữ mà một lãnh đạo của Đảng, Nhà nước viết tặng anh “ai cũng có rất nhiều chỗ để đi, nhưng chỉ có một chốn để trở về”.

Minh họa: NGUYỄN VÂN CHUNG

Những màu áo cũ

Nông thôn nơi Hân sống hãy còn rất nhiều người nghèo, cái ăn cái mặc, sự học hành con trẻ lắm khi quá sức với cha mẹ của chúng. Chưa kể nếu những bậc cha mẹ trẻ ấy còn sống chung gia đình lớn, còn cha mẹ già đau yếu bệnh tật thì đồng lương công nhân, làm thuê, cắt cỏ, xịt thuốc… sẽ không bao giờ đủ.

Nhớ phiên chợ Mộc

Nhớ phiên chợ Mộc

Ở xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc cũ (nay là phường Vinh Lộc, Nghệ An) quê tôi, cạnh gốc đa cổ thụ và cái nền đình xưa của làng là ngôi chợ mang tên chợ Mộc. Chợ Mộc làng tôi to lắm, “to” chứ không phải “lớn” đâu nhé.

Vá lưới. Ảnh: NAM NGUYỄN

Gió ở lại lòng người

Tôi đến Phú Hài, một làng chài ven biển của Phan Thiết, vào buổi sớm khi gió còn mềm. Biển khi ấy lặng, như vừa thức giấc sau một đêm dài. Không có những sắc màu rực rỡ hay ồn ào của một điểm đến du lịch, Phú Hài mở ra bằng nhịp sống chậm rãi, đủ để người mới ghé qua kịp nhận ra sự bình yên của làng.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Tình yêu của mẹ

Ở ngoại ô thành phố có một bà cụ đã mất. Chồng bà là một công nhân 70 tuổi đã nghỉ hưu. Cụ ông đến bưu điện để gửi sáu bức điện tín đến các vùng khác nhau của nước cộng hòa, tất cả đều có chung một nội dung: “Mẹ mất rồi các con về đi! Bố”.

Giàn mướp. Ảnh: SONG ANH

Nhớ mùa hoa mướp vàng

Khi cái nắng đầu hè rực lên ánh ỏi thì giàn mướp trước sân nhà tôi cũng nở hoa vàng rực. Từng đốm hoa thắp nắng giữa giàn lá xanh um, bầy ong dập dìu bay qua bay lại.

Thả lưới. Ảnh: SONG ANH

Mênh mang sông Đầm

Chiếc ghe đưa chúng tôi rời khỏi bến sông Đầm trong cái nắng đầu ngày. Chú Ba, người đồng hành cùng nhóm đã sống ở xứ này hơn sáu mươi năm.

Mưa dông. Ảnh: SONG ANH

Những cơn dông

Không hiểu sao, từ nhỏ đến giờ, tôi rất thích ngắm nhìn những cơn dông kéo đến trước mỗi trận mưa. Với tôi, đó là một khoảnh khắc kỳ diệu của thiên nhiên vũ trụ.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

3 triệu đồng

Gã trở nhà mới gần 10 giờ đêm. Trời oi nồng, vài hạt mưa lắc rắc càng làm tăng sức nóng. Trong con hẻm cụt không còn bóng người, gió yếu ớt chẳng rơi nổi chiếc lá, tưởng như màn đêm đã chìm sâu từ kiếp nào.

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.