Phút giây sinh tử của người chiến sĩ an ninh hàng không

Không lâu sau khi máy bay cất cánh từ đường băng sân bay Đà Nẵng, bọn không tặc ra tay hành động. Hai tên phía trước đứng dậy rút lựu đạn, hai tên phía sau hét lớn, khống chế hành khách. Trong khoang chiếc máy bay 45 chỗ ngồi chật chội, không khí hoảng loạn, tiếng la hét, tiếng kêu khóc lẫn trong tiếng quát tháo đe dọa...

Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.
Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.

Đó là những phút giây kinh hoàng trên chiếc An-24 mang số hiệu 226 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam vào ngày 7/2/1979.

Một mình chống không tặc

Trên chuyến bay có lộ trình Hà Nội - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất, 6 tên không tặc mang theo lựu đạn giấu trong hộp sữa của một phụ nữ có con nhỏ. Cách chúng vài dãy ghế là anh lính trẻ cao gần 1,8 m, hội đủ phẩm chất của một nhân viên an ninh “chìm”, ngồi lẫn trong khoang hành khách với khẩu súng ngắn giắt trong bụng.

Ngay sau khi bọn không tặc hành động, Nguyễn Đắc Thoại đã quan sát, đánh giá tình thế, chọn cách phản ứng. Trong khoảnh khắc, anh rút súng bắn chết tên không tặc cầm trái lựu đạn chưa mở chốt, khiến hắn đổ vật xuống. Tiếp đó, Thoại thúc cùi chỏ vào tên thứ hai lao đến từ phía sau, rồi nã đạn ngay khi hắn bật ngã. Tên thứ ba trước khi “lĩnh” viên đạn vào ngực đã kịp đập chai rượu trúng đầu Thoại. Mảnh vỡ cắm sâu làm anh choáng váng, máu chảy nhòe mắt. Ngay phút giây sinh tử đó, Thoại vẫn đủ bình tĩnh để thúc cùi chỏ vào bụng tên thứ tư đang ôm chặt phía sau, vòng súng qua nách để bắn thẳng vào sườn hắn.

Hạ gục bốn tên cướp manh động, hung hãn, có tên là sĩ quan, binh lính quân đội Sài Gòn cũ, đồng thời khống chế những tên còn lại, đó là bản lĩnh của người chiến sĩ Lữ đoàn 144, Quân đội nhân dân Việt Nam. Với trình độ tác chiến điêu luyện và ý thức trách nhiệm cao, Nguyễn Đắc Thoại đã xả thân để cứu sinh mệnh mấy chục người trên chuyến bay.

Câu chuyện của Nguyễn Đắc Thoại nằm trong chuỗi sự kiện của Hàng không dân dụng Việt Nam những năm đầu sau ngày đất nước thống nhất. Những năm sau 1975, đất nước còn nghèo, hàng không dân dụng chưa được trang bị máy soi chiếu hành lý nên súng lục, dao găm, lựu đạn cứ khéo giấu là mang trót lọt lên máy bay. Cửa buồng lái luôn mở cho hành khách nhìn thấy các bác lái xe phi công, thân thiện như đi xe đò.

172.jpg
Ông Thoại thời trẻ.

Trước ngày 2/7/1979, đã có hai vụ không tặc cướp máy bay hòng trốn ra nước ngoài. Vụ thứ nhất là chuyến bay DC-3 số hiệu 509 lộ trình Tân Sơn Nhất - Rạch Giá - Phú Quốc - Tân Sơn Nhất, xảy ra ngày 29/10/1977. Vụ này không tặc giết chết hai người thuộc tổ lái, buộc máy bay hướng sang Singapore, quá cảnh ở Utapao đổ thêm xăng, sau đó đầu hàng cảnh sát Singapore. Do phải chờ thủ tục ngoại giao, hai ngày sau phía ta mới sang nhận máy bay, hành khách và các thi thể.

Sau vụ không tặc chấn động này, Tổng cục Hàng không dân dụng trang bị cho tổ lái mỗi người một súng ngắn và gia cố lại cửa buồng lái, đồng thời quy định cửa buồng lái phải luôn đóng. Bộ Tổng Tham mưu điều 20 chiến sĩ Lữ đoàn 144 biệt phái sang làm nhiệm vụ an ninh hàng không. Thượng tá Trần Xuân Mỹ, cán bộ Viện Kiểm sát quân sự, Bộ Tổng Tham mưu, cựu chiến binh Lữ đoàn 144 cho biết, “cụ “ Phùng Thế Tài, lúc bấy giờ là Tổng Cục trưởng Hàng không dân dụng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam yêu cầu số chiến sĩ này phải giỏi võ, giỏi bắn súng và đặc biệt là phải cao to để có lợi thế khi vật lộn với không tặc. Nguyễn Đắc Thoại là một trong 20 chiến sĩ biệt phái ấy.

Vụ thứ hai, ngày 28/6/1978, trên chuyến bay Douglas DC-4 số hiệu VN-C501 chở 60 hành khách từ Đà Nẵng đi Buôn Ma Thuột - Tân Sơn Nhất, không tặc nổ súng, ném lựu đạn, dùng dao đâm nhân viên an ninh nhưng không vào được buồng lái. Máy bay quay về sân bay Đà Nẵng, một tên không tặc chết do lựu đạn hắn ném bật ngược trở lại, ba tên hốt hoảng nhảy ra khi máy bay hạ thấp độ cao, rơi xuống đất chết. Hậu quả là 4 tên không tặc và một nhân viên phi hành đoàn chết, 3 nhân viên hàng không bị thương nặng, máy bay hư hỏng.

Sự kiện ngày 7/2/1979 (đúng 10 ngày trước khi nổ ra chiến tranh biên giới phía bắc) trên chiếc An-24 mang số hiệu 226 có thể là vụ việc thảm khốc thứ ba liên tiếp do không tặc gây ra, nếu như không có sự dũng cảm, phi thường của chiến sĩ an ninh hàng không Nguyễn Đắc Thoại.

173.jpg
Chiến sĩ an ninh Nguyễn Đắc Thoại kể lại những phút giây sinh tử trên chuyến bay An-24 số hiệu 226 ngày 7/2/1979.

Chuyện từ ký ức

Một buổi sáng đầu hè, chúng tôi đến thăm Nguyễn Đắc Thoại, người hùng đã tiêu diệt 4 tên không tặc trên chuyến bay năm nào. Trong căn nhà nằm sâu vào con ngõ hẹp trên phố Nguyễn Văn Cừ, phường Long Biên (Hà Nội), ông đón khách với gương mặt bình thản của một người đã trải qua nhiều sóng gió cuộc đời.

Khi tôi hỏi, ông dùng loại súng gì, ông bảo, đó là súng ngắn K-59, không phải K-54. “Sức xuyên phá của đạn K-54 lớn lắm, có thể gây sát thương cho hành khách, hoặc phá thủng khoang máy bay, rất nguy hiểm khi ở độ cao hàng nghìn mét”, ông lý giải.

Nguyễn Đắc Thoại cho hay, sau ngày ông bắn hạ bọn không tặc, “cụ” Phùng Thế Tài có gặp ông. “Cụ” bảo, bây giờ phải ưu tiên chống xâm lược đã, khen thưởng thế thôi. Một cán bộ chính trị của Tổng cục cũng nói với ông, nếu thưởng Huân chương hạng nhất thì phải đặt vấn đề xét phong anh hùng, bây giờ chưa phù hợp.

Sau chiến công ngày 7/2/1979, Nguyễn Đắc Thoại được thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì, được thăng quân hàm vượt cấp từ Trung sĩ lên Thiếu úy. Đến năm 1982, ông được cử đi Liên Xô học ngành tổ chức vận chuyển hàng không. Ở trường, một vị đại tá người Nga đã viết lại câu chuyện của người học viên Việt Nam, tổ chức cho toàn trường học tập.

Trường hợp một cá nhân hành động gần như độc lập, chủ động tiêu diệt toàn bộ nhóm không tặc ngay trong khoang máy bay, không ảnh hưởng đến hành trình là cực kỳ hiếm có, độc nhất trong lịch sử hàng không dân dụng thế giới.

Chiến công của Nguyễn Đắc Thoại là trường hợp cực kỳ hiếm có trong lịch sử hàng không dân dụng thế giới. Trường hợp một cá nhân hành động gần như độc lập, chủ động tiêu diệt toàn bộ nhóm không tặc ngay trong khoang máy bay, không làm ảnh hưởng đến hành trình như ông có lẽ là độc nhất. Trong hoàn cảnh đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, còn nhiều khó khăn, việc bảo toàn được tài sản lớn là chiếc máy bay trị giá nhiều triệu USD và sinh mạng của hơn 40 người lại càng thêm ý nghĩa.

Sau chuyến bay An-24 ngày 7/2/1979 ấy, tình hình an ninh hàng không được siết chặt hơn, nạn không tặc ở Việt Nam chấm dứt. Một phần nhờ công tác bảo đảm an ninh đã được tăng cường, nhưng một phần quan trọng cũng nhờ dư âm lan tỏa từ chiến công của Nguyễn Đắc Thoại. Danh tiếng vang dội của lực lượng an ninh hàng không khiến những kẻ âm mưu cướp máy bay trốn ra nước ngoài phải chùn bước, những toan tính, âm mưu bị dập tắt từ trong trứng.

Đại tá Trần Danh Bảng, phóng viên Báo Quân đội nhân dân; Đại tá Đào Quang Trung, cán bộ biệt phái sang Văn phòng Chính phủ; Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt, nguyên lính xe tăng đánh chiếm Dinh Độc lập và Thượng tá Trần Xuân Mỹ cùng nhiều cựu chiến binh Lữ đoàn 144 đều cho rằng, chiến công của “người hùng” Nguyễn Đắc Thoại hội đủ các tiêu chí “có thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất” để được khen thưởng ở mức tương xứng hơn.

Trận tử chiến của nhân viên an ninh hàng không Nguyễn Đắc Thoại với không tặc trên chuyến bay An-24 ngày 7/2/1979 trong tình thế khẩn cấp và mức độ nguy hiểm vô cùng gay cấn. Hình ảnh người đàn ông từng lập chiến công oanh liệt với khuôn mặt điềm đạm, cương nghị khiến tôi nghĩ nhiều về bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.

Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.

Đánh thức hương chè cổ giữa ngàn mây Tả Củ Tỷ

Trong bảng lảng sương mây bao phủ khắp đỉnh Tả Củ Tỷ (Lào Cai), nơi những dãy núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành ngăn cách nơi này với thế giới bên ngoài, có một loài cây đã bám rễ sâu vào lòng đất từ hàng trăm năm trước. Đó là chè Tuyết Shan cổ thụ - báu vật của đại ngàn.

Đại tá phi công Hoàng Biểu.

Ánh sao đêm trên cung lửa

Có những chuyến bay đêm trên vùng trời Khu 4, từ độ cao vài nghìn mét, Đại tá, phi công Hoàng Biểu nhìn xuống mặt đất chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Không làng mạc, không ánh đèn. Chỉ có mùi của chiến tranh ngột ngạt và đáng sợ.

Đảo Trường Sa Lớn. Ảnh: HẢI NAM

Những hòn đảo đang lớn (kỳ 1)

Không phải mọi điều ở quần đảo Trường Sa đều quá mới mẻ. Nhưng vẫn có những câu chuyện đủ để giữ lại, dù là người mới đến đó một lần hay đã nhiều lần.

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Buôn lậu sừng tê giác, ngà voi hay cao hổ, báo, xương sư tử… vốn là loại hình buôn bán cực kỳ đặc biệt bởi “mặt hàng kinh doanh” này được cả thế giới bảo vệ, thu dung và chăm sóc.

Cựu chiến binh Trần Chiến Chinh (bên phải) và cựu chiến binh Lê Phú Tháo thời trẻ.

Ký ức đất lửa Hòa Vang (kỳ 1)

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là vùng ven thành phố Đà Nẵng, Hòa Vang đã trở thành chiếc răng nanh thép cắm sâu vào yết hầu quân thù. Giữa vòng vây siết nghẹt của đồn bốt, quân và dân nơi đây đã viết nên bản hùng ca bất tử.

Trẻ khiếm thính tham gia hoạt động ngoại khóa.

Rút ngắn khoảng cách để nối dài yêu thương

“Trong hành trình 14 năm vừa làm mẹ vừa đồng hành cùng con, dù đã gặp nhiều người cùng hoàn cảnh nhưng đối với gia đình, con vẫn là riêng biệt nhất”, chị Nông Thị Tình, thành viên nhóm cha mẹ trẻ khiếm thính ở Thái Nguyên chia sẻ.

TS Chu Mạnh Trinh (ngoài cùng bên phải) đi thực tế tại làng gốm Mỹ Thiện.

Ông tiến sĩ của du lịch cộng đồng

“Phải bảo vệ tuyệt đối môi trường tự nhiên”, đó là quan điểm cứng rắn của TS Chu Mạnh Trinh, giảng viên Khoa Sinh - Nông nghiệp - Môi trường Trường đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng).

Tàu vào ga xép Cẩm Giàng.

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.