Đánh thức hương chè cổ giữa ngàn mây Tả Củ Tỷ

Trong bảng lảng sương mây bao phủ khắp đỉnh Tả Củ Tỷ (Lào Cai), nơi những dãy núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành ngăn cách nơi này với thế giới bên ngoài, có một loài cây đã bám rễ sâu vào lòng đất từ hàng trăm năm trước. Đó là chè Tuyết Shan cổ thụ - báu vật của đại ngàn.

Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.
Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.

Những gốc cây xù xì, rêu phong đứng hiên ngang giữa gió rít và giá rét như chính cốt cách của người Dao nơi đây. Và chàng thanh niên người Dao Lý Văn Minh đã mang đến cho cây chè ấy một cuộc phục sinh đúng nghĩa.

Khát vọng làm giàu từ bản làng

Tả Củ Tỷ - cái tên gieo liền ba thanh trắc đọc nghe nặng trầm mà như gợi đến miền đất xa thăm thẳm, khe sâu núi cao, nơi trời đất giao hòa, mịt mù sương gió. Quả là thế, ngược tỉnh lộ 153 từ cao nguyên trắng Bắc Hà lên “rốn sương mù” Lùng Phình rồi rẽ xuống hun hút thung sâu chừng 20 cây số, quặt ngược lên tầng tầng, lớp lớp núi cao như xếp gối, Tả Củ Tỷ hiện ra trong sương mù ẩm ướt, ngẩng đầu lên là chạm mây vờn, gió núi thổi ào ào như trút lá. Đứng trên mỏm núi gần trụ sở xã Tả Củ Tỷ cũ nhìn sang phía tỉnh lộ 153 vừa đi qua, chỉ như một vệt trắng chăng ngang trước mắt, cách tầm chim bay chừng vài cây số.

Trong căn nhà vừa mới làm xong còn thơm mùi gỗ, bên ấm chè Tuyết cổ thụ màu nước xanh như ngọc, ngọt hậu, câu chuyện khởi nghiệp của chàng trai người Dao ngược về những tháng ngày làm đủ thứ nghề, nhận đủ thứ việc để theo học khoa Quản lý Tài nguyên rừng, Trường đại học Nông - Lâm Thái Nguyên. Ngoài giờ học, Minh chạy xe máy làm chân giao hàng, ngày nghỉ cuối tuần đi bốc vác, nhận chân phụ việc cửa hàng nhôm kính, sơn xì, thêm cả bưng bê nhà hàng… miễn sao kiếm được tiền trang trải học hành. Ngược về miền ký ức xa hơn, tuổi thơ của Lý Văn Minh gắn liền với những buổi sớm theo mẹ lên nương, đôi chân nhỏ bé bấm vào đất dốc, tay run rẩy hái từng búp chè trên núi cao còn đẫm sương đêm. Anh đã chứng kiến cảnh cha mình thức trắng đêm bên chảo gang, đôi bàn tay chai sần đảo chè nóng rẫy đến phồng rộp để rồi hôm sau lại lầm lụi gùi chè xuống núi bán rẻ như cho. Cái nghèo cứ đeo bám dai dẳng như mây mù phủ kín lối về. “Những trăn trở ấy chính là động lực để tôi quyết bứt ra khỏi “ốc đảo” mù sương đến với giảng đường đại học, quyết tìm ra chìa khóa để mở cánh cửa tương cho lai bản thân và quê hương Tả Củ Tỷ của mình” - Lý Văn Minh bộc bạch. Chàng trai người Dao vẫn nhớ lần nghỉ hè về quê, ra chợ Lùng Phình thấy người làng Sảng Mào Phố quê mình ngồi bên chiếc ken (gùi đeo lưng đan bằng tre nứa) bán những ống chè Tuyết hái trên núi cao, sao sấy thủ công mà thương lái mua giá rẻ như rau, còn khách du lịch chỉ ngó qua và chụp ảnh lưu niệm rồi đi. Ý nghĩ cứ trở đi trở lại trong đầu Minh: “Sao chè Tuyết đặc sản quê mình, tuổi cây hàng trăm năm, ngon và quý như thế mà khách mua hờ hững thờ ơ, người buôn thì mua rẻ thế?”. Vừa tiếc vừa thương người quê mình, trong ấy có cả cha mẹ, họ hàng dòng họ Lý ở Sảng Mào Phố bán chè ở chợ, chàng trai người Dao nung nấu ý định trở về Tả Củ Tỷ, gắn bó đời mình với cây chè quý.

Minh kể, ngày cầm tấm bằng kỹ sư trở về bản vào năm 2019, không ít người đã lắc đầu ái ngại, nhưng với anh, tri thức không phải để tìm kiếm một chiếc ghế êm ấm ở phố thị mà là để bắt rễ vào đất đai quê mình. Chàng trai tri thức trẻ người Dao không ngại gian khổ thể hiện ở những đêm ròng rã lội bộ qua từng vách đá dựng đứng để quy hoạch vùng nguyên liệu, hay những lúc một mình đối mặt với sự hoài nghi của một bộ phận người dân trong bản.

Chuẩn hóa từ gốc, nâng giá trị từng búp chè

Bước chân khởi nghiệp của Minh mang đậm dấu ấn của khoa học và sự tỉ mỉ. Anh không làm theo cảm tính, kiểu kinh nghiệm "nhìn trời, nhìn đất" mà vận dụng tư duy khoa học sắc bén, với những kiến thức chuẩn về cây chè. Áp dụng kiến thức về sinh hóa cây trồng, Minh thiết lập một quy trình vàng cho chè Tuyết Shan. Anh đánh số từng cây theo phân loại tuổi (300, 500, 700 năm), khoanh vùng địa lý cụ thể của từng cây, phân tích từng thành phần tanin để đưa ra biểu đồ nhiệt độ sấy phù hợp nhất trên từng loại sản phẩm, thông qua thiết bị và quy trình tiêu chuẩn khép kín, giúp giữ trọn lớp lông tơ trắng mịn như tơ - linh hồn của trà Tuyết Shan cổ thụ. Những mẻ chè đầu tiên ra lò, thơm nồng nàn vị của gió ngàn, vị ngọt hậu của đất đá cùng khí trời vùng cao đã minh chứng cho sự đúng đắn của một trí thức trẻ dám nghĩ dám làm. Sản phẩm chè của Minh không chỉ dừng lại ở thị trường trong nước mà bắt đầu vươn ra thế giới đến khách tiêu dùng ở Úc, châu Âu… Hiện tại, HTX Nông nghiệp Tả Củ Tỷ do Minh làm giám đốc có vùng nguyên liệu chè Tuyết cổ thụ đặc hữu gần 170 ha, hơn 20 lao động, đưa ra thị trường châu Âu và nội địa mỗi năm khoảng 50 tấn sản phẩm, bao gồm các loại Bạch trà, Bạch trà mẫu đơn, Hồng trà, Lục trà… Trà cổ thụ Tả Củ Tỷ bán ra thị trường được chia thành loại hảo hạng giá bán 5,2 triệu đồng/kg và loại bình thường bán 520 nghìn đồng/kg. Chính việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu, cách thức, công nghệ sản xuất sản phẩm chè hữu cơ, nói không với hóa chất, ngay cả dụng cụ đựng bằng nhựa hay bao gói bằng nylon đã giúp sản phẩm của anh đạt chuẩn OCOP cao cấp và vươn tầm thế giới, đưa anh tới bục vinh danh giải thưởng Lương Đình Của.

Minh kể, khởi nghiệp có lúc tưởng buông xuôi, may mà có bà con dân bản và người vợ trẻ đồng hành. Ngày mới làm chè, vay ngân hàng chính sách được 200 triệu đồng, đôi vợ chồng trẻ “sáng mua, chiều vò, đêm sấy” làm quần quật như trâu kéo gỗ. Những tưởng tâm huyết và công sức đổ vào từng “ken” búp tươi để thành từng cân chè thành phẩm theo lối thủ công sạch, thơm hương vị núi rừng Tả Củ Tỷ, thế nhưng khi mang xuống chợ huyện, ra phố Lào Cai chào hàng thì không ai mua. Người ta chê những sợi chè đen đúa, loằng ngoằng như rơm cắt. Chủ cửa hàng chè cũng như người tiêu dùng chưa biết, chưa tin sản phẩm từ cây chè Tả Củ Tỷ. Cả tuần, cả tháng mang đi bán lại mang về, buồn chán đến tuyệt vọng, Lý Văn Minh bèn sang nhà vợ bên Xín Mần (Hà Giang cũ) cho khuây khỏa, chính lúc ấy cô vợ trẻ không một tiếng thở than, vừa lo việc nhà vừa động viên chồng đứng lên bước tiếp. Trở về Sảng Mào Phố, không còn tiền để mua nguyên liệu đầu vào, bà con dân bản bảo nhau bán chịu cho thằng con trai dám bỏ phố về bản tìm đường mở lối cho cây chè núi. Thấm cái nghĩa ấy, chàng trai Lý Văn Minh tự hẹn với lòng mình sẽ không bao giờ bỏ cuộc, đứng lên và bước tiếp.

Hạnh phúc là sự sẻ chia

Tầm nhìn của Minh không chỉ dừng lại ở lợi nhuận của một doanh nghiệp. Với vai trò Bí thư Chi bộ, Phó Bí thư Đoàn xã, anh xung kích đi đầu lan tỏa tinh thần đổi mới cách nghĩ, cách làm trong phát triển kinh tế gia đình trẻ ở địa phương. Thay vì giữ bí quyết công nghệ để làm giàu riêng mình, Minh sẵn sàng đem tất cả kiến thức học được truyền dạy lại cho đoàn viên, thanh niên và bà con. Anh kiên trì giải thích cho bà con hiểu về nông nghiệp hữu cơ, về giá trị của việc bảo tồn cây di sản. Những buổi sinh hoạt Đoàn giữa nương chè, nơi Minh cùng các bạn trẻ bàn chuyện khởi nghiệp, chuyện đưa hương chè lên sàn thương mại điện tử đã thổi một luồng sinh khí mới vào bản làng vốn bao năm lặng lẽ. Người Dao vốn có tính cộng đồng rất cao. Từ bé thơ, anh đã nghe mẹ dạy: “Ăn một mình thì không thấy ngon, làm một mình thì không nên việc lớn” nên hiểu rằng để bản làng thoát nghèo, cần một sức mạnh tập thể. Anh đã biến HTX thành “mái nhà chung”, dành sự quan tâm đặc biệt đến các bạn trẻ, truyền lửa khởi nghiệp để họ không còn phải rời bỏ quê hương đi làm thuê nơi xứ người. Anh trực tiếp đứng ra bảo lãnh vốn, hỗ trợ máy móc và tận tình cầm tay chỉ việc, chấp nhận những rủi ro về phía mình để bảo đảm đời sống cho hơn 400 hộ dân liên kết, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, bền vững. “Vào mùa đốn tỉa, dưỡng cây, mình đến từng nhà, đến tận nương chè hướng dẫn bà con cách đốn tỉa “ít đau” cây nhất. Đến kỳ thu hoạch thì giúp bà con hái tôm, lá đúng cách, làm sao để chất lượng thành phẩm tốt nhất, bán giá cao nhất”, Minh chia sẻ.

Người dân Sảng Mào Phố quý Minh bởi anh đã hy sinh tuổi thanh xuân, hy sinh những tiện nghi phố thị để lăn lộn cùng mọi người giữa sương muối, gió ngàn. Hôm tôi đến, bên mâm cơm ấm áp, già làng Lý Văn Phúc nắm cánh tay Minh cười lớn: “Người Dao ta có câu: Lời nói như mũi tên bắn đi, việc làm như dấu chân trên đá. Người tốt là người biết lo cho cái bụng bản làng cùng ấm. Tiếng lành bay qua chín núi, mười đèo. Lý Minh cái miệng nói liền với cái tay làm, như cây quế hương thơm bay xa khắp rừng”. Còn có hạnh phúc nào bằng khi được ở giữa bà con quê hương như thế!

Có thể bạn quan tâm

Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.

Phút giây sinh tử của người chiến sĩ an ninh hàng không

Không lâu sau khi máy bay cất cánh từ đường băng sân bay Đà Nẵng, bọn không tặc ra tay hành động. Hai tên phía trước đứng dậy rút lựu đạn, hai tên phía sau hét lớn, khống chế hành khách. Trong khoang chiếc máy bay 45 chỗ ngồi chật chội, không khí hoảng loạn, tiếng la hét, tiếng kêu khóc lẫn trong tiếng quát tháo đe dọa...

Đại tá phi công Hoàng Biểu.

Ánh sao đêm trên cung lửa

Có những chuyến bay đêm trên vùng trời Khu 4, từ độ cao vài nghìn mét, Đại tá, phi công Hoàng Biểu nhìn xuống mặt đất chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Không làng mạc, không ánh đèn. Chỉ có mùi của chiến tranh ngột ngạt và đáng sợ.

Đảo Trường Sa Lớn. Ảnh: HẢI NAM

Những hòn đảo đang lớn (kỳ 1)

Không phải mọi điều ở quần đảo Trường Sa đều quá mới mẻ. Nhưng vẫn có những câu chuyện đủ để giữ lại, dù là người mới đến đó một lần hay đã nhiều lần.

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Buôn lậu sừng tê giác, ngà voi hay cao hổ, báo, xương sư tử… vốn là loại hình buôn bán cực kỳ đặc biệt bởi “mặt hàng kinh doanh” này được cả thế giới bảo vệ, thu dung và chăm sóc.

Cựu chiến binh Trần Chiến Chinh (bên phải) và cựu chiến binh Lê Phú Tháo thời trẻ.

Ký ức đất lửa Hòa Vang (kỳ 1)

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là vùng ven thành phố Đà Nẵng, Hòa Vang đã trở thành chiếc răng nanh thép cắm sâu vào yết hầu quân thù. Giữa vòng vây siết nghẹt của đồn bốt, quân và dân nơi đây đã viết nên bản hùng ca bất tử.

Trẻ khiếm thính tham gia hoạt động ngoại khóa.

Rút ngắn khoảng cách để nối dài yêu thương

“Trong hành trình 14 năm vừa làm mẹ vừa đồng hành cùng con, dù đã gặp nhiều người cùng hoàn cảnh nhưng đối với gia đình, con vẫn là riêng biệt nhất”, chị Nông Thị Tình, thành viên nhóm cha mẹ trẻ khiếm thính ở Thái Nguyên chia sẻ.

TS Chu Mạnh Trinh (ngoài cùng bên phải) đi thực tế tại làng gốm Mỹ Thiện.

Ông tiến sĩ của du lịch cộng đồng

“Phải bảo vệ tuyệt đối môi trường tự nhiên”, đó là quan điểm cứng rắn của TS Chu Mạnh Trinh, giảng viên Khoa Sinh - Nông nghiệp - Môi trường Trường đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng).

Tàu vào ga xép Cẩm Giàng.

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Bà Đạm Thư chia sẻ những câu chuyện về A Lưới với bạn bè.

Người phụ nữ nặng lòng với thung lũng da cam

​Tại căn hộ chung cư nhỏ ở TP Hồ Chí Minh, tôi từng chứng kiến một hình ảnh cảm động. Có một bà cụ dáng người nhỏ bé, mái tóc bạc trắng, lưng còng gập xuống đến mức phải tựa hẳn vào chiếc xe đẩy mới có thể đứng vững.

Anh hùng LLVTND Đinh Hữu Thuần trong một lần được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Từ canh trời Tổ quốc đến góc thiền giữa trời Tây Bắc

​Gặp lại người lính ra-đa năm nào, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Đinh Hữu Thuần, giờ đây là Thiền sư Thích Chánh Tuệ giữa mù sương Sa Pa, chúng tôi hiểu rằng: Sau cùng, vinh quang lớn nhất không phải là tấm huy chương lấp lánh trên ngực áo, mà là sự tự tại, bao dung trong một tâm hồn đã dâng hiến trọn vẹn cho Tổ quốc.

Quay tời thả “cá sắt” xuống dòng sông Năng.

Lặng lẽ Đầu Đẳng

Tôi mượn ý của nhà văn Nguyễn Thành Long trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” cũng để nói về những người làm nghề “gác” trạm khí tượng thủy văn ở Đầu Đẳng. Đã hơn 50 năm, tác phẩm "Lặng lẽ Sa Pa" ra đời nhưng ở Trạm thủy văn Đầu Đẳng (xã Ba Bể, Thái Nguyên) vẫn “ba không”: Không đường, không điện, không nước sạch.

Nghệ nhân Váng Vần Séng (trái) chơi đàn lìn xìn.

Đàn lìn xìn còn vang trên núi non

Thèn Hồng Quân dẫn tôi tới nhà ông Váng Vần Séng ở thôn Cốc Coọc, xã Pà Vầy Sủ, tỉnh Tuyên Quang. Ông là nghệ nhân chế tạo đàn lìn xìn - loại nhạc cụ dùng đệm cho các khúc hát dân gian của người Nùng. Đã lâu lắm mới lại có người hỏi đàn, ông nhớ người mua đàn một, nhớ điệu hát, tiếng đàn đến mười phần.

Đường lên khu A Trạm radar 485.

Vượt dốc thăm nhà trên núi của lính biển

Chỉ còn đúng một chuyến tàu cao tốc ra đảo Trà Bản (đặc khu Vân Đồn, Quảng Ninh) lúc chúng tôi tới. Những con tàu gỗ chở khách khác đã nép mình nơi góc cảng Cái Rồng. Trời đổ mưa từ sáng, gió ngoài vịnh Bái Tử Long cũng bắt đầu trở mình.

Cán bộ, chiến sĩ tàu 740 (Hải đoàn 129, Quân chủng Hải quân) được chở tới Nhà giàn DK1/20 để thực hiện bỏ phiếu sớm.

Lá phiếu chủ quyền trên sóng thềm lục địa

Những ngày đất liền vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị cho kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, thì trên Biển Đông, nhiều khu vực đã hoàn thành việc bỏ phiếu sớm. Năm nay, hành trình bỏ phiếu sớm cũng tiến hành ngay khi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vừa kết thúc.

Nhiệt huyết của những người lính ra khơi năm xưa còn chảy vào lớp người hôm nay ở Lý Sơn.

Nghĩa khí đất đảo hùng binh

Giữa mênh mang Biển Đông, hòn đảo vẫn lặng lẽ mà hiên ngang nơi đầu sóng ngọn gió, vừa là tiền đồn, vừa là chứng nhân cho hành trình mở cõi, giữ biển.

Những bản làng của đồng bào Pa Kô, Vân Kiều dọc đường biên giới.

Đi trong sương giá biên thùy

Có những chuyến đi để trở về, nhưng cũng có những chuyến đi để thấy mình “lớn” thêm trong sự nhỏ bé trước cuộc đời. Đêm 28 Tết Bính Ngọ, Hà Nội bắt đầu nồng nàn mùi nước lá mùi già, tôi lại chọn ngược gió, ngược sương để tìm về dải đất miền trung nắng cháy - nơi mà “Tết” là một khái niệm vừa thân thương, vừa xa xôi đến lạ lùng.