51 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Ký ức đất lửa Hòa Vang (kỳ 1)

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là vùng ven thành phố Đà Nẵng, Hòa Vang đã trở thành chiếc răng nanh thép cắm sâu vào yết hầu quân thù. Giữa vòng vây siết nghẹt của đồn bốt, quân và dân nơi đây đã viết nên bản hùng ca bất tử.

Cựu chiến binh Trần Chiến Chinh (bên phải) và cựu chiến binh Lê Phú Tháo thời trẻ.
Cựu chiến binh Trần Chiến Chinh (bên phải) và cựu chiến binh Lê Phú Tháo thời trẻ.

Kỳ 1: Những hạt giống đỏ

Để hiểu sâu hơn về những năm tháng chiến đấu gian lao mà anh dũng của quân và dân Hòa Vang trong kháng chiến chống Mỹ, qua sự giới thiệu của đồng nghiệp, tôi tìm gặp cựu chiến binh Trần Chiến Chinh - một người con của mảnh đất Hòa Vang, người đã có nhiều năm trực tiếp chiến đấu trên chính quê hương mình.

Tọa độ lửa sát nách địch

Ngôi nhà nhỏ của ông nằm yên bình trên một con phố thuộc phường Hòa Cường. Trong buổi chiều nắng đổ vàng dịu nhẹ, đón chúng tôi là một người đàn ông với nụ cười hiền hậu, ánh mắt ấm áp với phong thái điềm đạm của người đã đi qua nhiều bão giông. Ông thong thả rót trà mời khách. Bên ấm trà nóng, làn khói mỏng bảng lảng bay lên như một lớp màn ký ức. Trong không gian tĩnh lặng ấy, ông bắt đầu kể chuyện, đưa chúng tôi ngược dòng thời gian trở về những năm tháng Hòa Vang từng chìm trong khói lửa.

Ngày ấy, Đà Nẵng không chỉ là một thành phố cảng, mà còn là căn cứ quân sự hỗn hợp khổng lồ của Mỹ - Ngụy, với sân bay chiến lược và quân cảng nước sâu hiện đại. Chính vì thế, Hòa Vang nghiễm nhiên trở thành vành đai sinh tử, một “vành đai trắng” mà địch tìm mọi cách bóp nghẹt để bảo vệ Đà Nẵng. Chúng giăng ra một thế trận dày đặc đến nghẹt thở. Đồn bốt, biệt kích rải khắp nơi, lính chủ lực càn quét dưới đồng bằng, lực lượng bảo an thì trà trộn sâu trong dân. Nhưng chúng không ngờ rằng, ngay trong lòng vành đai ấy, quân và dân Khu 2 Hòa Vang vẫn kiên cường bám trụ và chiến đấu “một tấc không đi, một ly không rời”. “Sau chiến dịch Mậu Thân, giai đoạn 1969-1971 là quãng gian khó và ác liệt nhất. Bom B52 dội xuống, cày nát hậu cứ. Dưới cánh đồng, lính Mỹ lết, cản gần như không lúc nào ngơi súng”, ông Chinh nhớ lại.

Trong những năm tháng ấy, ông Chinh gia nhập lực lượng vũ trang huyện đội Hòa Vang, giữa lúc chiến trường đang ở cao trào khốc liệt. Chàng trai trẻ khi ấy đảm nhận nhiệm vụ trinh sát, thường xuyên thâm nhập sâu vào lòng địch, nắm tình hình, mở đường cho các trận tập kích. Với cây B40 trên vai, ông nhiều lần đảm nhiệm mũi chủ công, là người khai hỏa phá vỡ các hỏa điểm kiên cố, mở đường cho đồng đội xung phong. Nhớ lại chuyện cũ, ông nói nhẹ: “Chúng tôi là con của Hòa Vang. Thấy giặc giày xéo mảnh đất cha ông, thấy bà con bị dồn vào khu tập trung, sống kiếp đọa đày trong bốt đồn kẻ thù thì sao có thể ngồi yên?”. Lứa thanh niên Hòa Vang ngày đó giản dị lắm. Cứ lớn thêm một chút, đôi vai đủ sức cầm cây súng là lên núi theo cách mạng.

Câu chuyện về những năm tháng lửa đạn của ông Chinh cũng chính là nhịp cầu đưa chúng tôi tìm về một nhân chứng khác, người đã cùng ông đi qua những thời khắc sinh tử.

Theo chân ông Chinh, chúng tôi trở lại chính quê cũ Hòa Vang. Chúng tôi gặp lại cựu chiến binh Lê Phú Tháo, nguyên Chính trị viên Đại đội 2 - Khu 2 Hòa Vang, cũng là một người anh, một người đồng đội của ông Chinh. Dưới hiên nhà giản dị bao quanh bởi những vòm tre xanh mát, cuộc hội ngộ của hai người lính già diễn ra trong không khí ấm áp, chân tình. Ở tuổi 85, ông Tháo vẫn giữ phong thái điềm đạm. Câu chuyện của hai người lính bắt đầu rồi cứ thế nối dài như chưa từng có khoảng cách của hơn nửa thế kỷ.

“Lúc đó mệnh lệnh chỉ gói gọn trong mấy chữ “Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào”, ông Tháo mở lời. Ra trận, không ai dám chắc mình còn sống để thấy ngày mai. Ông Tháo kể về những năm tháng đói gạo, đói thuốc, thiếu đủ bề, nhưng tình người thì chưa bao giờ vơi cạn: “Không ai lùi bước, vì lùi là mất quê hương”. Ông Tháo hoạt động cách mạng từ năm 1959, đúng thời điểm Ngụy lê máy chém khắp nơi. Trong ký ức của người lính già, cái đói, cái bệnh chưa bao giờ đáng sợ bằng nỗi đau khi thấy đồng đội ngã xuống. “Có những lon gạo cuối cùng phải dành cho thương binh, người khỏe thì ăn củ chuối qua ngày. Đói cũng nhường nhau. Cái gì cũng ưu tiên cho người đi đầu. Tình đồng chí hồi đó sâu lắm, không kể hết được”.

Rồi ông Tháo bất chợt đọc lại hai câu thơ của ông Chinh, giọng chùng xuống: “Gặp nhau tay bắt mặt mừng/Mà sao đôi mắt rưng rưng lệ nhòa”.

Miếng vải đỏ thay cờ trong lễ kết nạp Đảng

52.jpg
Cựu chiến binh Trần Chiến Chinh đang đọc hồi ký của mình.

Từ những ký ức đan xen ấy, cả hai người lính cùng đưa chúng tôi trở lại một đêm không thể nào quên. Đó là đêm 16 rạng sáng 17/7/1972. Để chia lửa với mặt trận Quảng Trị, Đại đội 2 nhận nhiệm vụ đánh một đại đội địch thuộc Sư đoàn 3 Ngụy dã ngoại tại khu gò mả thôn Tây, thuộc xã Điện Sơn (nay là phường Điện Bàn Bắc, TP Đà Nẵng).

Chiều tối hôm ấy, đơn vị bí mật tập kết tại nhà chị Nguyễn Thị Húy. Trong không gian yên lắng lạ thường trước giờ xuất kích, ông Tháo lặng lẽ ghé sát tai ông Chinh: “Quyết định kết nạp Đảng của em, đồng chí Bí thư Khu ủy đã ký rồi. Đánh xong trận này, ta làm lễ ngay tại trận địa nhé”. “Lúc đó, tôi như có luồng điện chạy dọc sống lưng. Niềm vui dâng lên nghẹn ngào, bởi ước mơ trở thành người đảng viên, với mỗi người lính khi ấy là điều lớn lao và thiêng liêng lắm”, ông Chinh nhớ lại.

0 giờ 30 phút, trận đánh nổ ra. Tiếng súng rền vang xé toạc màn đêm. Những quả B40 từ tay ông Chinh phát hỏa chính xác, mở đường cho đơn vị. Trận đánh diễn ra căng thẳng, ta giành thắng lợi và rút quân về nhà cô Húy.

Khi khói súng còn chưa kịp tan, mùi thuốc súng và bụi đất vẫn vương trên áo chiến sĩ, một buổi lễ đặc biệt đã diễn ra ngay điểm tập kết. Không kịp chuẩn bị cờ, họ lấy một mảnh vải đỏ nhỏ treo tạm lên vách đất làm biểu tượng cho lá cờ Đảng. Không có bình hoa, chỉ một ngọn đèn dầu đủ soi sáng một góc căn nhà. Những người lính vừa trở về từ một trận đánh, áo cộc tay còn mùi thuốc súng, ai nấy đều lấm lem. Vài khẩu súng chiến lợi phẩm dựng chéo phía trước. Họ đứng thành hai hàng dọc. Thấy ông Chinh tới, họ ùa đến ôm chầm lấy người đồng chí. Ông Chinh nhớ lúc đó người giới thiệu mình vào Đảng là anh Mãng, quê ở Cẩm Toại. Anh nói: “Vinh dự này không chỉ của riêng đồng chí Chinh, mà của tất cả chúng ta. Chúng ta có niềm tin, và hôm nay, chúng ta đã chiến thắng”.

Mấy chục năm qua, mỗi lần nhớ lại lễ kết nạp Đảng năm đó, ông Chinh vẫn dâng trào bao nhiêu cảm xúc. Ông nhớ lại cả những lần đánh đồn, chống càn, những khi dìu nhau vượt qua con Suối Lớn giữa mùa nước dữ, khi chia nhau từng miếng cơm cháy của chị nuôi dành cho anh em đi chuẩn bị chiến trường trở về.

Tờ quyết định kết nạp Đảng của ông Chinh hôm đó nằm trong túi ông Tháo suốt trận đánh. Lúc được chính thức trao cho người đảng viên mới, tờ giấy thậm chí còn không còn nguyên vẹn. “Tôi cầm tờ quyết định kết nạp Đảng, bàn tay run bần bật”, ông Chinh nhớ lại, “Lòng tôi nghĩ về mẹ, nghĩ mẹ ở quê chắc sẽ vui lắm, vì đêm nay con là người của Đảng rồi”.

Năm 1965 khi ông Mai Ngọc Châu, Huyện ủy viên, Chính trị viên Huyện đội Hòa Vang, tỉnh Quảng Đà cũ (nay là Đà Nẵng) được cử ra Thủ đô Hà Nội để báo cáo tình hình đánh Mỹ của quân, dân huyện nhà. Bác Hồ đã căn dặn: “Phải làm cho Hòa Vang trở thành một chấm son trên bản đồ của Tổ quốc!”.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.

Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.

Phút giây sinh tử của người chiến sĩ an ninh hàng không

Không lâu sau khi máy bay cất cánh từ đường băng sân bay Đà Nẵng, bọn không tặc ra tay hành động. Hai tên phía trước đứng dậy rút lựu đạn, hai tên phía sau hét lớn, khống chế hành khách. Trong khoang chiếc máy bay 45 chỗ ngồi chật chội, không khí hoảng loạn, tiếng la hét, tiếng kêu khóc lẫn trong tiếng quát tháo đe dọa...

Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.

Đánh thức hương chè cổ giữa ngàn mây Tả Củ Tỷ

Trong bảng lảng sương mây bao phủ khắp đỉnh Tả Củ Tỷ (Lào Cai), nơi những dãy núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành ngăn cách nơi này với thế giới bên ngoài, có một loài cây đã bám rễ sâu vào lòng đất từ hàng trăm năm trước. Đó là chè Tuyết Shan cổ thụ - báu vật của đại ngàn.

Đại tá phi công Hoàng Biểu.

Ánh sao đêm trên cung lửa

Có những chuyến bay đêm trên vùng trời Khu 4, từ độ cao vài nghìn mét, Đại tá, phi công Hoàng Biểu nhìn xuống mặt đất chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Không làng mạc, không ánh đèn. Chỉ có mùi của chiến tranh ngột ngạt và đáng sợ.