Ánh sao đêm trên cung lửa

Có những chuyến bay đêm trên vùng trời Khu 4, từ độ cao vài nghìn mét, Đại tá, phi công Hoàng Biểu nhìn xuống mặt đất chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Không làng mạc, không ánh đèn. Chỉ có mùi của chiến tranh ngột ngạt và đáng sợ.

Đại tá phi công Hoàng Biểu.
Đại tá phi công Hoàng Biểu.

Rồi bất chợt, một vệt sáng bùng lên - một cung lửa đỏ rực giữa rừng già Trường Sơn. “Cứ nhìn thấy cái cung lửa ấy là xót xa lắm. Biết ngay là đoàn xe vận tải của mình vừa bị trúng bom. Lúc đó, chỉ muốn hạ được máy bay của địch để trả thù”, người phi công già lặng đi.

Những cánh én học bay trong bóng tối

Câu chuyện của vị Đại tá 86 tuổi với chúng tôi bắt đầu bằng bóng tối. Bóng tối của những đêm đen trên đỉnh Trường Sơn, nơi những Con Ma F-4, Thần Sấm F-105, C-130 và cả pháo đài bay B-52 mệnh danh bất khả xâm phạm của không quân Mỹ dọc tuyến đường chiến lược 559 - đường Trường Sơn - huyết mạch nối hậu phương miền bắc với tiền tuyến miền nam.

Giữa năm 1965, khi Mỹ bắt đầu leo thang đánh phá miền bắc, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã sớm nhận ra rằng kẻ thù không chỉ đánh ngày, chúng sẽ tận dụng bóng đêm với mưu đồ hủy diệt. Lúc bấy giờ, lực lượng không quân trẻ tuổi của ta mới chỉ lẫm chẫm những bước đầu tiên. Trong số 16 phi công ưu tú vừa tốt nghiệp MIG-17 tại Liên Xô được giữ lại để chuyển loại sang MIG-21, Hoàng Biểu là một trong những gương mặt trẻ nhất.

“Chúng tôi học gấp rút trong 6 tháng. Tháng 12/1965 thì về nước”, ông nhớ lại. Những chương trình đào tạo phi công chuẩn mực quốc tế đòi hỏi học viên phải đi từ dễ đến khó, từ bay ngày đến bay đêm, từ bay khí tượng đơn giản đến bay khí tượng phức tạp. Thế nhưng yêu cầu của chiến trường trong nước không cho họ đủ thời gian huấn luyện thông thường như giáo án. Sự an nguy của Tổ quốc buộc họ phải học “nhảy cóc”. Tháng 2/1967, tổ bay đêm đầu tiên gồm Hà Văn Chúc, Nguyễn Văn Thuận và Hoàng Biểu được thành lập. Kể về những ngày tháng ấy, ông Biểu cất giọng trầm ngâm: “Thời chiến, cứ có dạng thời tiết nào là yêu cầu phải bay để thích ứng. Chúng tôi huấn luyện không theo bài bản nào cả, dùng chính trí tuệ và cả sự liều lĩnh của lòng yêu nước để bù đắp cho sự thiếu hụt về trang bị”.

Nói về sự khác biệt giữa bay ngày và bay đêm, ông Biểu bảo: “Mọi người cứ thử làm công việc của chính mình vào ban ngày rồi chuyển sang ban đêm thì biết”. Bay ngày đã khó, bay đêm là một thế giới khác. Phi công không nhìn thấy trận địa, không có điểm tựa thị giác, bởi vậy nên không thể lần mò theo địa hình. Chỉ cần sai cảm giác một chút, cái giá phải trả là sinh mạng. Thế nhưng, những cánh én bạc vẫn sẵn sàng lao vào không trung trong bóng tối, dù biết rằng mỗi lần rời mặt đất là một lần đối mặt với tử thần không nhìn rõ mặt.

“MIG ở cổ chai”

​Nếu xem đường Trường Sơn 559 là huyết mạch ra tiền tuyến, thì vùng trời Khu 4 chính là chảo lửa trung tâm của mạch máu đó. B-52, C-130 và các loại máy bay tiêm kích khác của Mỹ càn quét đêm ngày hòng chặn đứng mọi nguồn chi viện của ta cho chiến trường. Để bảo vệ con đường, từ năm 1968 đến 1972, lực lượng bay đêm của ta thường xuyên cơ động vào các sân bay dã chiến Thọ Xuân, Anh Sơn, Đồng Hới. ​Đó là những ngày tháng nếm mật nằm gai đúng nghĩa. Sân bay dã chiến thực chất chỉ là những dải đất ngắn hẹp, dài khoảng 1.800m, rộng 25m. Ngoài sở chỉ huy thì có thêm 1 đài xa, 1 đài gần và hệ thống đèn hoa tiêu “tù mù” vừa đủ để phi công xác định được vị trí sân bay. ​“Chúng tôi trực chiến 24/24. Đêm nằm trên cáng ngay dưới cánh máy bay, mặc nguyên quần áo bay, mũ bay để bên cạnh. Hầu như không thể ngủ được. Chỉ cần có lệnh báo động là rút cáng ra, đội mũ, nhảy lên buồng lái”, ông Biểu nhớ lại.

Quân đội Mỹ gọi vùng trời Quảng Bình, Quảng Trị của Khu 4 là cổ chai theo hình dáng địa lý trên bản đồ. Khi phát hiện có máy bay MIG của ta xuất hiện ở đây, chúng sẽ báo động “MIG ở cổ chai”. Ngay lập tức, các tốp B-52 đang bay vào Khu 4 sẽ chuyển hướng bay ra. B-52 được Mỹ coi là lực lượng chiến lược, họ không bao giờ muốn thí những chiếc phi cơ quý giá cho các trận đánh mang tính chiến thuật như đánh đường giao thông. Có mặt tại cổ chai, nhiệm vụ của những phi công bay đêm như ông Biểu là săn B-52 và C-130. Sự hiện diện của Hoàng Biểu cùng đồng đội bay đêm như Đinh Tôn, Vũ Đình Rạng... đã tạo ra một lá chắn vô hình vững vàng cho vùng trời Khu 4. ​Dù có những đêm không bắn rơi được chiếc máy bay nào, nhưng chỉ cần MIG cất cánh, B-52 sẽ dừng hoạt động từ ba đến năm đêm.

“Chúng tôi vẫn thường nhận được điện cảm ơn từ Bộ Chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn, từ đó mới biết, nhờ có không quân hoạt động mà anh em công binh, vận tải dưới đất mới giãn bớt được những trận bom hủy diệt, dốc sức tiếp tục chiến đấu trên đường Trường Sơn”, giọng ông Biểu đầy xúc động.

Hạnh phúc của người phi công bay đêm đôi khi chỉ giản đơn là thấy cung đường phía dưới cánh bay được bình yên.

52.jpg
Đại tá phi công Hoàng Biểu thời trẻ.

​Chuyến bay cảm tử

Đêm 29/3/1972, tại sân bay Anh Sơn, 1 giờ sáng, báo động cấp 1, có lệnh cất cánh. Thời tiết xấu, trời mưa tầm tã, tầm nhìn chỉ còn khoảng 100m, trong khi quy định an toàn tối thiểu là hơn 500m.

Nhiệm vụ lần này không có mục tiêu cụ thể. Nói cách khác, đó là một chuyến bay mồi đơn độc. Cánh bay của Hoàng Biểu lao vút vào vùng trời phía tây Quảng Trị ở độ cao 4.000m. Nhiệm vụ của ông là dùng chính thân mình làm mồi nhử, đánh lừa hệ thống cảnh giới của địch, ép các tốp B-52 đang tiến vào Khu 4 phải quay đầu tháo lui.

​Nhưng đó cũng là một canh bạc sinh tử. Lượng dầu dự trữ trên chiếc MIG-21 chỉ có giới hạn. Ngoài hiểm nguy khi đối mặt với máy bay địch, bay không mục tiêu, bay để nghi binh không có thời gian cụ thể, người phi công phải chuẩn bị tinh thần cho việc cạn dầu và cơ hội quay lại đường băng lúc đó bằng 0. Khi ấy, phi công chỉ có thể nhảy dù giữa đêm xuống vùng rừng núi hiểm trở, nơi tỷ lệ sống sót chỉ vỏn vẹn 25%. Đó là một quyết định cất cánh mà cả người đi lẫn người ở lại đều biết, cái giá phải trả có thể chính là mạng sống.

​Đúng 2 giờ sáng, khi động cơ lịm dần vì cạn dầu, Hoàng Biểu buộc phải nhảy dù, gửi mình vào khoảng không đen đặc của vùng trời Yên Thành (Nghệ An). Ông may mắn sống sót và được dân quân xã Yên Thành đưa về Sở Chỉ huy tiền phương của Quân chủng Phòng không - Không quân. Tư lệnh Lê Văn Tri và Chính ủy Hoàng Phương đón ông mà giọng nghẹn ngào: “Biểu ơi, đêm qua bọn tớ đã nghĩ là cậu đi thì sẽ không về được đâu. Nhưng sáng nay ta mở chiến dịch Quảng Trị, chúng ta phải thử, không thể cho nó phát hiện ra đội hình tập kết của bộ đội dưới mặt đất đang ém quân chờ chiến dịch”. Kể lại chuyến bay đó, ông Biểu bảo rằng lúc cất cánh, ông không nghĩ nhiều như người ta tưởng tượng: “Chỉ tập trung hoàn thành nhiệm vụ để trở về thôi”.

Nhìn phong thái dung dị, trò chuyện bằng chất giọng ấm của ông bây giờ, ai biết rằng, vị Đại tá phi công dày dạn sương gió ấy vốn là một cậu bé dân tộc Tày ở vùng núi Hà Quảng, Cao Bằng. Tuổi thơ nghèo khó của ông được đo bằng những quãng đường bộ dài 40km để đi học cấp 3. Sau khi tốt nghiệp, ông được gửi sang Liên Xô học lái máy bay. Để rồi từ đây, những ước mơ về gia đình, về cuộc sống riêng tư đều xếp sau ước mơ hoàn thành nhiệm vụ, ước mơ nước nhà thống nhất. ​Dù sau này trực tiếp bắn rơi hai máy bay F-4 của Mỹ trong những lần hiếm hoi được phân công thực hiện nhiệm vụ tác chiến ban ngày, nhưng đối với Hoàng Biểu, hai năm ròng rã trực chiến đêm tại Khu 4 mới là khoảng thời gian để lại cho ông nhiều cảm xúc nhất: “Mình chiến đấu ở đấy là bảo vệ tuyến đường vận chuyển cho miền nam nên cảm thấy như được gần đồng bào miền nam hơn”.

Năm 1984, ông nghỉ bay. Vị Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân năm nào trở về với cuộc sống đời thường, giản dị giữa lòng Hà Nội nhưng nỗi nhớ những chuyến bay vẫn luôn thường trực: “Đó là số phận, là định mệnh và cũng là tình yêu của cuộc đời tôi”.

Nhìn ra khoảng trời bình yên ngoài cửa sổ, ông chia sẻ: “Thời của chúng tôi là chiến đấu giải phóng Tổ quốc, còn bây giờ là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ở mỗi thời lại có những yêu cầu đòi hỏi khác nhau. Thế nhưng tôi tin rằng, thời nào sẽ có con người của thời ấy, vẫn sẽ có người Việt Nam đứng lên bảo vệ Tổ quốc mình”.

​Đại tá Hoàng Biểu và thế hệ phi công bay đêm MIG-21 đã sống và chiến đấu như thế, thầm lặng và dũng cảm trên cung đường lửa Khu 4. Họ đã bay vào bóng tối để thắp lên ánh sáng.

Cho một cung đường bình yên dưới cánh bay.

​Cho một vùng trời không còn tiếng bom.

Và cho cả một dân tộc đi qua giông bão chiến tranh.

Có thể bạn quan tâm

Đảo Trường Sa Lớn. Ảnh: HẢI NAM

Những hòn đảo đang lớn (kỳ 1)

Không phải mọi điều ở quần đảo Trường Sa đều quá mới mẻ. Nhưng vẫn có những câu chuyện đủ để giữ lại, dù là người mới đến đó một lần hay đã nhiều lần.

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Buôn lậu sừng tê giác, ngà voi hay cao hổ, báo, xương sư tử… vốn là loại hình buôn bán cực kỳ đặc biệt bởi “mặt hàng kinh doanh” này được cả thế giới bảo vệ, thu dung và chăm sóc.

Cựu chiến binh Trần Chiến Chinh (bên phải) và cựu chiến binh Lê Phú Tháo thời trẻ.

Ký ức đất lửa Hòa Vang (kỳ 1)

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là vùng ven thành phố Đà Nẵng, Hòa Vang đã trở thành chiếc răng nanh thép cắm sâu vào yết hầu quân thù. Giữa vòng vây siết nghẹt của đồn bốt, quân và dân nơi đây đã viết nên bản hùng ca bất tử.

Trẻ khiếm thính tham gia hoạt động ngoại khóa.

Rút ngắn khoảng cách để nối dài yêu thương

“Trong hành trình 14 năm vừa làm mẹ vừa đồng hành cùng con, dù đã gặp nhiều người cùng hoàn cảnh nhưng đối với gia đình, con vẫn là riêng biệt nhất”, chị Nông Thị Tình, thành viên nhóm cha mẹ trẻ khiếm thính ở Thái Nguyên chia sẻ.

TS Chu Mạnh Trinh (ngoài cùng bên phải) đi thực tế tại làng gốm Mỹ Thiện.

Ông tiến sĩ của du lịch cộng đồng

“Phải bảo vệ tuyệt đối môi trường tự nhiên”, đó là quan điểm cứng rắn của TS Chu Mạnh Trinh, giảng viên Khoa Sinh - Nông nghiệp - Môi trường Trường đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng).

Tàu vào ga xép Cẩm Giàng.

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Bà Đạm Thư chia sẻ những câu chuyện về A Lưới với bạn bè.

Người phụ nữ nặng lòng với thung lũng da cam

​Tại căn hộ chung cư nhỏ ở TP Hồ Chí Minh, tôi từng chứng kiến một hình ảnh cảm động. Có một bà cụ dáng người nhỏ bé, mái tóc bạc trắng, lưng còng gập xuống đến mức phải tựa hẳn vào chiếc xe đẩy mới có thể đứng vững.

Anh hùng LLVTND Đinh Hữu Thuần trong một lần được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Từ canh trời Tổ quốc đến góc thiền giữa trời Tây Bắc

​Gặp lại người lính ra-đa năm nào, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Đinh Hữu Thuần, giờ đây là Thiền sư Thích Chánh Tuệ giữa mù sương Sa Pa, chúng tôi hiểu rằng: Sau cùng, vinh quang lớn nhất không phải là tấm huy chương lấp lánh trên ngực áo, mà là sự tự tại, bao dung trong một tâm hồn đã dâng hiến trọn vẹn cho Tổ quốc.

Quay tời thả “cá sắt” xuống dòng sông Năng.

Lặng lẽ Đầu Đẳng

Tôi mượn ý của nhà văn Nguyễn Thành Long trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” cũng để nói về những người làm nghề “gác” trạm khí tượng thủy văn ở Đầu Đẳng. Đã hơn 50 năm, tác phẩm "Lặng lẽ Sa Pa" ra đời nhưng ở Trạm thủy văn Đầu Đẳng (xã Ba Bể, Thái Nguyên) vẫn “ba không”: Không đường, không điện, không nước sạch.

Nghệ nhân Váng Vần Séng (trái) chơi đàn lìn xìn.

Đàn lìn xìn còn vang trên núi non

Thèn Hồng Quân dẫn tôi tới nhà ông Váng Vần Séng ở thôn Cốc Coọc, xã Pà Vầy Sủ, tỉnh Tuyên Quang. Ông là nghệ nhân chế tạo đàn lìn xìn - loại nhạc cụ dùng đệm cho các khúc hát dân gian của người Nùng. Đã lâu lắm mới lại có người hỏi đàn, ông nhớ người mua đàn một, nhớ điệu hát, tiếng đàn đến mười phần.

Đường lên khu A Trạm radar 485.

Vượt dốc thăm nhà trên núi của lính biển

Chỉ còn đúng một chuyến tàu cao tốc ra đảo Trà Bản (đặc khu Vân Đồn, Quảng Ninh) lúc chúng tôi tới. Những con tàu gỗ chở khách khác đã nép mình nơi góc cảng Cái Rồng. Trời đổ mưa từ sáng, gió ngoài vịnh Bái Tử Long cũng bắt đầu trở mình.

Cán bộ, chiến sĩ tàu 740 (Hải đoàn 129, Quân chủng Hải quân) được chở tới Nhà giàn DK1/20 để thực hiện bỏ phiếu sớm.

Lá phiếu chủ quyền trên sóng thềm lục địa

Những ngày đất liền vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị cho kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, thì trên Biển Đông, nhiều khu vực đã hoàn thành việc bỏ phiếu sớm. Năm nay, hành trình bỏ phiếu sớm cũng tiến hành ngay khi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vừa kết thúc.

Nhiệt huyết của những người lính ra khơi năm xưa còn chảy vào lớp người hôm nay ở Lý Sơn.

Nghĩa khí đất đảo hùng binh

Giữa mênh mang Biển Đông, hòn đảo vẫn lặng lẽ mà hiên ngang nơi đầu sóng ngọn gió, vừa là tiền đồn, vừa là chứng nhân cho hành trình mở cõi, giữ biển.

Những bản làng của đồng bào Pa Kô, Vân Kiều dọc đường biên giới.

Đi trong sương giá biên thùy

Có những chuyến đi để trở về, nhưng cũng có những chuyến đi để thấy mình “lớn” thêm trong sự nhỏ bé trước cuộc đời. Đêm 28 Tết Bính Ngọ, Hà Nội bắt đầu nồng nàn mùi nước lá mùi già, tôi lại chọn ngược gió, ngược sương để tìm về dải đất miền trung nắng cháy - nơi mà “Tết” là một khái niệm vừa thân thương, vừa xa xôi đến lạ lùng.

Kíp xuồng tàu Trường Sa 19 đang nhận hàng để đưa lên nhà giàn DK1/2 (bãi cạn Phúc Tần).

Đi về phía mặt trời (kỳ 1)

Từ cầu cảng KTQP Trường Sa (Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân, Thành phố Hồ Chí Minh) xuất phát, chúng tôi bắt đầu hải trình về nơi những bãi cạn trên thềm lục địa phía nam, trong chuyến thăm, chúc Tết theo thông lệ hằng năm. 

Trương Chấn Sang vẫn ngày ngày nỗ lực mang niềm tin và hy vọng đến cho những thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn trên khắp mọi miền Tổ quốc.

"Đi về phía nắng" từ bóng tối nghịch cảnh

Có những hạt mầm không may rơi vào kẽ đá, chịu đựng biết bao khắc nghiệt từ bão giông, nhưng khi vươn mình đón nắng lại trở thành nhành cây kiên cường nhất. Chàng trai sinh năm 1997 Trương Chấn Sang là một nhành cây như thế.

Anh Trần Thanh Quang (đứng giữa) lưu giữ nét tinh hoa ẩm thực Huế.

Ngọt thơm ký ức tìm về

Cứ độ Tết đến xuân về, trong mỗi gia đình xứ Huế luôn ngào ngạt hương thơm của các loại bánh mứt. Sự khéo tay, óc sáng tạo của người Huế được thể hiện qua từng đường nét và mùi vị bánh trái. Ánh nắng dịu nhẹ ở vùng đất cố đô xưa càng thêm bình yên qua từng câu chuyện về ẩm thực cung đình, bánh mứt dân gian.