Cái nhìn ghi lại “địa chính học” từ trên máy bay?
Triển lãm đã thu hút không ít người xem, khi nhìn tấm phông lớn ở cửa vào tại 66 Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Thú vị hơn nữa nếu như cùng xem và lắng nghe những bình luận của khán giả yêu thích hội họa (không phải những người xem chuyên nghiệp).
Những bức tranh khổ lớn và rất lớn, họa sĩ không vẽ bằng sơn dầu trên toan hay sơn mài trên gỗ, mà dùng acrylic trên những tấm ván gỗ công nghiệp khổ 1,2x2,4 m. Bức nhỏ nhất chắp lại từ hai tấm thành khổ 2,4x4,8 m. Còn bức lớn nhất thì chắp lại từ sáu tấm. 12 bức tranh đánh số đã chiếm đầy hai phòng triển lãm.
Nhìn tên triển lãm là “Niệm”, người ta hay nghĩ đến một hành vi trong tôn giáo. Nhưng triển lãm hoàn toàn là trừu tượng đen trắng, và gây những cảm giác phong phú khác lạ bởi không bị “định vị” như tranh có hình cụ thể. Một đôi thanh niên trò chuyện với nhau, phỏng đoán rằng quê họa sĩ ở Quảng Ninh chăng, bởi nhìn một số bức tranh như những “vỉa than” khổ lớn, như những vách động than khai quật sâu dưới lòng đất, có cả những hình người. Một bác cao tuổi dắt cháu nhỏ đi xem, thì chỉ vào bức tranh bảo cháu nhìn kia kìa, đây là người ta chụp đen-trắng mặt đất từ trên máy bay, chắc tác giả là nhà “địa chính học” rồi. Cũng không ai biết có một người đàn ông trung niên râu ria cao lớn, khoanh chặt hai tay đứng trước từng bức tranh và hơi mỉm cười khi nghe những cuộc trò chuyện mê say của người xem, chính là tác giả Nguyễn Ngọc Phương.
Tranh biểu hiện-trừu tượng, để nói điều gì?
Sau khi tốt nghiệp khoa Tạo dáng của Trường đại học Mỹ thuật công nghiệp, Nguyễn Ngọc Phương được giữ lại ngay làm giảng viên của trường. Cùng với người thầy là họa sĩ Trịnh Tuân, anh tham gia kết nối với các họa sĩ Đông Nam Á (nhóm ASEAN ART LINK-AAL). Nhóm này duy trì sáng tác và triển lãm thường niên giữa các nghệ sĩ Đông Nam Á, mỗi năm lại dịch chuyển hữu hảo từ nước này sang nước khác… Do năng động giao lưu, nên năm 2008, Nguyễn Ngọc Phương đã lập ra xưởng nghệ thuật Đa Giác (Polygon Studio) rộng hơn 400 m2 ở số 85 Vân Trì (Đông Anh, Hà Nội), với mục đích “liên kết giữa các nghệ sĩ trong nước và quốc tế, tạo ra hiệu ứng tích cực nhằm đa dạng hóa các hoạt động nghệ thuật…, làm phong phú hơn cho đời sống nghệ thuật. Từ 2008 đến nay, Đa Giác đã tổ chức được hàng chục trại sáng tác, triển lãm nhóm cho các họa sĩ trong và ngoài nước tới vẽ trực tiếp.
Là người năng động và nhiều sức khỏe, yêu thích và duy trì luyện tập cả võ thuật (môn phái Vĩnh Xuân), nên ngoài việc hay vẽ tranh khổ lớn, cứ rảnh rỗi là họa sĩ phi xe đi “phượt” trên Tây Bắc. Những ai từng xem quá trình vẽ của Nguyễn Ngọc Phương còn biết anh càng ngày càng đi sâu vào thể loại trừu tượng, lại bắt đầu từ biểu hiện với toàn hình người các võ sĩ cơ bắp đang đấu chọi rất động, với cách quan sát như nhìn từ trên cao. Điều này được thể hiện sinh động trong bức tranh khổ lớn “Ngày thứ 49”, sáng tác trực tiếp tại Bảo tàng Không gian văn hóa Mường cách đây 10 năm.
Xem tranh trừu tượng, có thể so sánh như khi thưởng thức nhạc không lời vậy. Nhạc không có lời, có nhiều cấp độ, từ chuyển thể giai điệu một bài hát, tiếp lên là các bản nhạc tấu không có lời hát. Cao hơn nữa thì có nhạc thính phòng, giao hưởng, bố cục thành các chương, hồi và nhiều người hòa tấu cùng lúc một cách mạnh mẽ. Tranh trừu tượng cũng có nhiều cấp độ như vậy. Trong thể loại đương đại, gọi chung biểu hiện-trừu tượng, thì người xem chuyên nghiệp luôn “đo đoán” được lượng bao nhiêu “phần trăm biểu hiện có hình thể”, bao nhiêu “phần trăm trừu tượng” trong một bức tranh.
Nhận định về triển lãm “Niệm” lần này, giống như một “đôi kính hàn” để có thể nhìn thấu, xem rõ được toàn bộ các bức tranh, có thể trích một đoạn trong bài viết của họa sĩ bậc thầy Lý Trực Sơn (ông sinh năm 1949, nổi tiếng với loạt tranh giấy dó vẽ Xúy Vân trước những năm 1990, sau này thành danh với hội họa sơn mài và vẽ giấy dó trừu tượng): “Trước mặt mỗi họa sĩ là rất nhiều trở ngại. Nghề càng cao trở ngại càng lớn. Với các họa sĩ có khuynh hướng trừu tượng càng thấy rõ điều này. Dường như càng giỏi, càng điêu luyện, càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm thì họa sĩ càng dễ sa vào lối mòn. Nguyễn Ngọc Phương ý thức được điều đó. Anh chọn cách vượt qua nan giải ấy bằng cách lùi. Lùi về nguyên sơ đến tận thời điểm người nguyên thủy thể hiện mình trên vách đá, trong hang động, lùi về tận lúc ý thức về nghệ thuật xuất hiện mà khuôn mẫu và định nghĩa về lĩnh vực này chưa có”.