KHƠI DẬY SỨC MẠNH VĂN HÓA

Giỗ Tổ Hùng Vương - Nguồn lực tinh thần đặc biệt

Trong tâm thức người Việt, hành trình về cội nguồn chưa bao giờ là một câu chuyện đã khép lại. Nó vẫn như mạch ngầm của ký ức dân tộc, nối liền hiện tại với buổi hồng hoang dựng nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô tại Đền Hùng (Phú Thọ) năm 1954. Ảnh tư liệu
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô tại Đền Hùng (Phú Thọ) năm 1954. Ảnh tư liệu

Mỗi độ tháng Ba Âm lịch, khi đất trời chuyển mình sang hạ, hàng triệu con tim lại hướng về ngày Giỗ Tổ Hùng Vương - một dấu mốc thiêng liêng của niềm tin và bản sắc.

Ý thức về “đồng bào”

Từ trong những trang báo cũ, câu chuyện khởi nguyên của dân tộc từng được kể lại giản dị mà sâu xa: “Ông Kinh Dương lấy con gái người Động Đình sinh ra ông Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ (con Vua Đế Lai) sinh một trăm người con trai… Một trăm ông con ấy, ông Lạc Long chia một nửa lên trên mạn rừng, một nửa xuống ở dưới mạn biển, ngày một sinh nở, tính ngót năm nghìn năm nay, mới thành một dân tộc rất lớn như vậy” (Hà Thành Ngọ Báo, ngày 29/3/1935).

Huyền tích ấy vẫn bền bỉ sống trong đời sống tinh thần qua bao thế hệ, như lời nhắc nhở về cội nguồn chung. Chính từ mạch nguồn ấy, ngày Giỗ Tổ không chỉ là một nghi lễ tưởng niệm, mà còn là điểm tựa tinh thần, nơi quá khứ và hiện tại gặp nhau trong ý thức về “đồng bào” - hai tiếng vừa thiêng liêng, vừa gần gũi.

Giỗ Tổ Hùng Vương từ lâu đã là một không gian hội tụ văn hóa - nơi ký ức dân tộc được tái hiện sinh động qua từng mùa trẩy hội. Những ghi chép báo chí đầu thế kỷ XX lại giúp ta hình dung rõ hơn về không khí hội hè nơi đất Tổ - vừa trang nghiêm, vừa rộn ràng, náo nức. Trong số báo ra ngày 10/4/1930, Hà Thành Ngọ Báo từng phác họa một bức tranh sống động về hội Đền Hùng: “Năm nào cũng vậy, cứ đến mồng 10 tháng Ba ta là có hội Đền Hùng. Đền xây ở trên một quả núi chót vót, thuộc làng Hy Cương (tỉnh Phú Thọ). Đứng tận đằng xa trông lại, chỉ thấy cây cối um tùm, một màu xanh ngắt…

Năm nào cũng vậy, hễ gần đến ngày hội, là các ngã ba, đường cái, chật ních những thiện nam tín nữ, đua nhau đi lễ. Nhất là các lối ra ga lại càng đông nữa. Chuyến xe lửa nào cũng đen ngòm những người đi xem hội, sở Hỏa xa phải cho nối thêm toa để chở hành khách. Các thầy ký bán vé không kịp… Các thứ trò vè đặt ra la liệt, tưng bừng vui vẻ lắm, nào du bát tiên, nào cờ người, nào đánh vật,…” (Hà Thành Ngọ Báo, ngày 10/4/1930).

Gắn liền với tinh thần kiến quốc

Ngay trong năm đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khi chính quyền cách mạng còn đang đối diện với muôn vàn khó khăn, việc xác lập và tôn vinh những giá trị nền tảng của dân tộc đã được đặt ra rất sớm. Ngày 18/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 22/SL-CTN về những ngày nghỉ Tết, kỷ niệm lịch sử và lễ tôn giáo, trong đó có ngày Hùng Vương (10/3 Âm lịch). Theo đó, các công sở trong toàn quốc sẽ đóng cửa; viên chức công nhật tòng sự tại các công sở có quyền được hưởng lương trong ngày Hùng Vương.

Trong bối cảnh đất nước vừa giành độc lập, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã mang một diện mạo mới - gắn liền với tinh thần kiến quốc và ý chí thống nhất dân tộc. Số báo Cứu Quốc ngày 13/4/1946 đã phác họa một không khí đặc biệt của mùa Giỗ Tổ năm ấy tại Đền Hùng:

“Mồng mười tháng ba âm lịch: ngày giỗ tổ. Ngày giỗ tổ năm nay trong toàn cõi Việt Nam tỉnh nào cũng làm lễ rất long trọng, và phần nhiều theo một nghi thức mới. Tại đền Hùng thuộc tỉnh Phú Thọ, nơi có lăng tẩm của ngài, ngày hội cũng khác mọi năm nhiều. Dưới những lá cờ đỏ sao vàng reo mừng trước gió và tự vươn mình trên những cây cả non cao, chỗ này phòng triển lãm tranh ảnh chiến tranh, và chống nạn mù chữ, chỗ kia gian hàng bày sách báo và những bức chân dung cụ Hồ. Nào hàng quà kiến quốc của chị em “Phụ nữ cứu quốc”,… Rất nhiều những khẩu hiệu: Việt Nam thống nhất, Tổ quốc muôn năm, sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh Hồ Chủ tịch,… treo ngang khắp các ngả đường từ chân núi lên đỉnh núi.

Ngày mồng 9, đại biểu Quốc hội và Chính phủ lên tới nơi, tiếng hoan hô suốt ngày vang rộn, hôm ấy một cuộc mít-tinh hàng vạn người Kinh, người Mán, người Mường ở chân núi, cụ Huỳnh Thúc Kháng - Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ Nguyễn Văn Tố - Chủ tịch Ban Thường trực Quốc hội lên diễn đàn nói về ý nghĩa ngày giỗ tổ năm nay và hô hào dân chúng đoàn kết thống nhất, ông Nguyễn Xiển - Chủ tịch Ủy ban Hành chính Bắc Bộ hô hào nhân dân toàn tỉnh tham dự việc sửa chữa đê điều, nhất là những quãng đê ở Lâm Thao Hà Kỳ phải nỗ lực cả Chính phủ lẫn nhân dân mới có thể ngăn cản được vụ nước tới. Cuối cùng, ông chủ tịch tỉnh Phú Thọ kết thúc cuộc mít-tinh một cách hùng tráng.

Sáng mồng 10, ngày chính giỗ,… trước bàn thờ Tổ quốc trên đỉnh núi cao, bốn bề cây cối âm u từ đền trong lên đền thượng, cụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ Chủ tịch Thường trực Quốc hội và ông Chủ tịch Ban Hành chính Bắc Bộ làm bồi tế. Nhưng trong nghi lễ này ta cũng nhận thấy một cử chỉ rất ý nghĩa là đại biểu Chính phủ và Quốc hội dâng bức bản đồ Việt Nam thống nhất Bắc, Trung, Nam và lá cờ đỏ sao vàng lên ban thờ Tổ quốc làm cho mọi người tràn ngập một ý nghĩ thiêng liêng về đất nước. Và có lẽ ai nấy trong lòng cùng thề nguyền: quyết giữ vững non sông và bảo vệ ngọn cờ…” (báo Cứu Quốc, ngày 13/4/1946).

Sợi dây tinh thần nối liền bắc - nam

Ngay trong những ngày tháng Tư lịch sử năm 1975 - khi không khí chiến đấu đang lan tỏa khắp cả nước, đất nước đứng trước thời khắc thống nhất - ngày Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn được tổ chức trang trọng nơi đất Tổ, như một điểm tựa tinh thần bền bỉ của dân tộc. Theo ghi nhận của Báo Nhân Dân (số ra ngày 21/4/1975), sáng 20/4 (tức mồng 10 tháng Ba âm lịch), tại xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Vĩnh Phú, chính quyền và các tổ chức đoàn thể đã long trọng tổ chức lễ Giỗ Tổ, với sự tham dự của đông đảo cán bộ và nhân dân. Trong bối cảnh cả dân tộc đang hướng về miền nam, hướng tới ngày toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh, sự kiện ấy càng mang ý nghĩa đặc biệt: Nhắc nhớ về cội nguồn chung, về mạch nối lịch sử không đứt đoạn của một dân tộc đang đi đến ngày sum họp.

Chỉ sau hơn một tháng kể từ ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, trong không khí hân hoan của một kỷ nguyên mới, việc nhìn lại cội nguồn dân tộc đã nhanh chóng trở thành một nhu cầu tinh thần sâu sắc. Ngày 8/6/1975, tại Sài Gòn, phòng trưng bày “Hùng Vương dựng nước” được mở cửa, mang theo một thông điệp rõ ràng: Từ buổi đầu dựng nước đến ngày non sông thu về một mối là một dòng chảy lịch sử liền mạch. “Mở cửa phòng trưng bày Hùng Vương dựng nước tại Sài Gòn: Sáng 8/6, tại Sài Gòn, phòng trưng bày Hùng Vương dựng nước do Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chuyển vào phục vụ đồng bào Sài Gòn - Gia Định đã mở cửa. Với nhiều thư tịch và hơn 300 hiện vật thuộc bốn nhóm di chỉ: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn tiêu biểu cho bốn thời kỳ phát triển văn hóa rực rỡ của thời Hùng Vương, phòng trưng bày giới thiệu truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta... Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Huỳnh Tấn Phát và Phó Chủ tịch Phùng Văn Cung đã tới xem phòng trưng bày, các vị đại sứ và đại diện các nước ở Sài Gòn cũng tới xem” (Nhân Dân, ngày 11/6/1975).

Nhìn lại những lát cắt lịch sử ấy, có thể thấy Giỗ Tổ Hùng Vương như một “sợi chỉ ký ức” xuyên suốt, bền bỉ, dù đi qua nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau, vẫn luôn giữ được một hằng số: Ý thức về cội nguồn và sự cố kết cộng đồng. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở việc giữ gìn một truyền thống, mà còn ở cách mỗi thời kỳ “tái nghĩa hóa” truyền thống ấy. Nếu trong xã hội truyền thống, ngày Giỗ Tổ là dịp tưởng niệm tổ tiên, thì trong những năm đầu của một quốc gia độc lập, đó còn là lời hiệu triệu đoàn kết; trong những ngày đất nước chia cắt, đó là sợi dây tinh thần nối liền bắc - nam; và khi non sông liền một dải, đó lại trở thành biểu tượng của sự thống nhất lịch sử - văn hóa.

Chính vì vậy, ý nghĩa lớn nhất của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương là khả năng khơi dậy một nhận thức sâu xa: Mỗi người Việt, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, đều có chung một điểm xuất phát. Hai tiếng “đồng bào” không chỉ là một cách gọi, mà là một nền tảng đạo lý. Khi ý thức ấy được đánh thức, nó trở thành nguồn lực tinh thần đặc biệt: Giúp con người vượt qua chia cắt, khác biệt, để hướng tới những giá trị chung lớn hơn.

Trong bối cảnh hôm nay, khi xã hội vận động nhanh, các giá trị truyền thống đứng trước nhiều thách thức, việc nhìn lại Giỗ Tổ Hùng Vương không chỉ là hoài niệm. Đó còn là một cách đặt ra câu hỏi cho hiện tại: Làm thế nào để mạch nguồn ấy tiếp tục được truyền dẫn một cách sống động, gần gũi, đặc biệt với thế hệ trẻ? Không phải bằng những khẩu hiệu, mà bằng những hình thức sáng tạo, bằng giáo dục lịch sử có chiều sâu, bằng những không gian văn hóa nơi quá khứ có thể “đối thoại” với hiện tại. Bởi suy cho cùng, một dân tộc chỉ thật sự vững vàng khi không đánh mất ký ức của mình.