Những dấu ấn cội nguồn...

Nhà nghiên cứu văn hóa, đạo diễn Nguyễn Việt được Nhà nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật với kịch múa Ngọn lửa Nghệ Tĩnh (đồng tác giả đợt II năm 2002). Ông từng biên đạo nhiều kịch múa, kịch thơ nổi tiếng, một số tác phẩm văn học được dư luận đánh giá cao. Nay đã ở tuổi ngoài thất thập nhưng ông vẫn miệt mài nghiên cứu văn hóa thời Hùng Vương và sắp tới ra mắt cuốn Nhìn về Ngôi nhà mẹ Âu Cơ. Trong dịp đầu xuân, phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trò chuyện thân mật với ông.

Việc UNESCO công nhận Tín ngưỡng Thờ cúng Hùng Vương là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là một vinh dự lớn với Việt Nam. Phải chăng không có dân tộc nào trên thế giới có một Quốc Tổ như Việt Nam?

Đúng vậy! Tìm hiểu những nước có nền văn minh sớm như Ai Cập, Trung Hoa, Ấn Độ cũng không thấy ai từ các vị vua Thượng (Trung Quốc) hay Pha-ra-ông (Ai Cập) được tôn làm Quốc tổ, mặc dù nền văn minh chữ viết của họ có từ rất sớm và được ghi chép khá đầy đủ. Thế nhưng ở Việt Nam, tuy lịch sử dựng nước thời Hùng Vương đến nay vẫn còn nhiều điều chưa rõ nhưng các Vua Hùng vẫn được tôn thờ là ông tổ dựng nước.

Ở một số dân tộc có phong tục hành hương về cội nguồn. Nhưng họ đi như vậy vì mang tính chất tôn giáo. Thí dụ: Người theo đạo Thiên chúa thì về Jerusalem, người theo đạo Phật thì về Tây Trúc, người theo đạo Hồi thì về La Mecca. Người Việt Nam hành hương không vì tín ngưỡng tôn giáo mà vì lòng kính tổ tiên. Nhiều quốc gia có đài tưởng niệm, khải hoàn môn vinh danh tiền bối nhưng khó tìm thấy nước nào có đền thờ chung cho cả quốc gia như Việt Nam. Giỗ Tổ Vua Hùng rõ ràng là một biểu trưng đặc biệt của dân tộc ta. Ở Việt Nam, có hàng nghìn di tích thờ Vua Hùng rải khắp các địa phương.

Theo ông thời Văn Lang có những cống hiến nổi bật gì cho văn minh nhân loại?

Nhà nước Văn Lang xuất hiện trong thời kỳ Hùng Vương (khoảng từ 2500- 200 trước Công nguyên (CN)), đó là thời kỳ tan rã của công xã nguyên thủy. Để có một nền văn minh tiêu biểu, những con người thời Văn Lang đã tiếp thu những phát minh của thế hệ Lạc Việt trước đó sáng tạo nên với văn học, lý học, lịch toán học... đặc biệt là công nghệ cổ đại với: luyện đồng thau, kỹ thuật đúc đồng và sản xuất giấy viết...

Chỉ nói về lĩnh vực thiên văn, có lẽ không mấy quốc gia cùng thời có được thành tựu như quốc gia Văn Lang. Bộ lịch Văn Lang là sớm nhất ở khu vực và tương đương với bộ lịch Ai Cập cổ đại cùng thời. Tuy nhiên, bộ lịch Văn Lang có sự hoàn chỉnh hơn bộ lịch Ai Cập cổ đại. Trong cách tính ngày và tháng lịch Văn Lang có điểm tương ứng với Âm lịch và Tây lịch là một năm vẫn tròn đủ 365 ngày, còn lịch Ai Cập cổ đại ngắn hơn sáu giờ (tính theo vòng quay mặt trời 365 ngày).

Để giúp người dân tính toán thời vụ làm ăn, các nhà soạn lịch Văn Lang đã thể hiện bộ lịch trên các thanh tre, gọi là “bộ lịch tre”. Bà con ở Mường Bi - Hòa Bình (hậu duệ của Hùng Vương) nay vẫn có nơi áp dụng cách tính lịch tre vào công việc đồng áng hằng năm.

Người Lạc Việt sớm phát hiện ra chòm sao Vũ Tiên (Hercules) và khắc nó trên chiếc rìu đá Bắc Sơn (có niên đại khoảng 5000 năm trước CN). Đầu thế kỷ 20, một số nhà thiên văn học hiện đại sau khi nghiên cứu đã xác định chòm sao Vũ Tiên và Thiên Cực Bắc (Bắc Đẩu) chỉ là một.

Nhiều nhà thiên văn thế giới đã kinh ngạc bởi người Lạc Việt sớm có những tư tưởng vượt trội so với các quốc gia cùng thời. Họ không những cảm nhận được hiện tượng trái đất vận động quanh mặt trời mà còn phát hiện ra mặt trời phải vận động theo một quỹ đạo... Để nói lên được điều này, Galile và Bruno ở I-ta-li-a vào thế kỷ 15-16 đã bị Thiên chúa giáo đưa lên giàn hỏa thiêu...

Theo cuốn Hà Đồ trong Văn minh Lạc Việt của Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh 2006: Người Lạc Việt cổ đã phát hiện được sao Thiên cực Bắc để từ đó dựng nên Bản đồ sao về dải Ngân Hà gọi tắt là Hà Đồ và sau đó xây dựng Lạc Thư. Hà Đồ - Lạc Thư là nền tảng một dạng “Lịch toán” của Lạc Việt. Trong Hà Đồ - Lạc Thư có sự trùng khớp kỳ bí với con số 100 trong truyền thuyết “con Rồng cháu Tiên”. Hà Đồ có 25 vòng tròn trắng (dương) và 30 vòng tròn đen (âm). Lạc Thư thì có 25 vòng tròn trắng (dương) và 20 vòng tròn đen (âm) phù hợp với thuyết Âm Dương, “trong dương có âm, trong âm có dương”... Tổng độ số Hà Đồ - Lạc Thư là 100 vòng tròn, trong đó 50 vòng tròn trắng (dương), 50 vòng tròn đen (âm).

Được biết ông từng là người trực tiếp đào trống đồng và là số ít người hiện nay đọc được nội dung trên trống đồng. Vậy cơ duyên nào đã đưa ông đến với “linh nghiệp” này?

... Mùa xuân năm 1971, Thủ tướng Phạm Văn Đồng muốn mời Thái tử Xi-ha-núc xem một chương trình văn nghệ thuần túy Việt Nam và giao cho Nhà hát Nhạc Vũ kịch Việt Nam thực hiện. Là biên đạo Nhà hát, tôi đưa ra ý tưởng “Hòa tấu của những dàn chiêng đồng”. Vì nhà hát thiếu chiêng đại nên tôi phải “phóng” lên Lai Đồng, Thu Cúc (Phú Thọ) sưu tầm. Nào ngờ, khi được đồng bào địa phương chỉ chỗ đào chiêng, tôi đã đào và tình cờ “vớ” được chiếc trống đồng (loại Heger II)...

Kế đó Viện sĩ, Viện trưởng Khảo cổ Phạm Huy Thông đã mời tôi sang trao đổi về chiếc trống đồng do tôi đào được. Từ đó tôi luôn được sự hướng dẫn tận tình của Viện sĩ về lĩnh vực này. Sau này, tôi còn đào thêm được hai chiếc trống đồng (Heger II) nữa tại vùng Minh Đài, Kiệt Sơn (Phú Thọ). Việc đào được những chiếc trống đồng này đã khơi cội nguồn hứng khởi để suốt cả mấy chục năm qua tôi đam mê tìm hiểu quốc bảo này.

Theo ông vì sao trống đồng được xem như là một biểu tượng của văn hóa Việt?

Dù chưa có một văn bản pháp quy nào chọn trống đồng là biểu tượng văn hóa Việt nhưng theo ngôn ngữ hiện đại tự thân nó được cộng đồng người Việt xem như “lô-gô Việt”. Có lẽ bởi trống đồng đã phản ánh được cội rễ văn minh Việt.

Trên thế giới ít có dân tộc nào có nhiều trống đồng cổ và đẹp như ở nước ta. Số trống đồng Heger I như: Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà, Cổ Loa... thuộc loại trống “độc nhất vô nhị”. Cùng giá trị về kỹ thuật và mỹ thuật, mỗi chiếc trống đồng là một “cuốn sách” không văn tự. Chúng ta có thể nhận biết diện mạo xã hội đương đại trên trống đồng ở nhiều lĩnh vực: nông nghiệp, công nghệ, nghệ thuật, tín ngưỡng...

Điểm độc đáo nữa là các nhà soạn lịch Văn Lang đã chọn chiếc trống đồng Hoàng Hạ để phổ biến bộ lịch. Các múi giờ được đặt giữa mặt trống đồng, biểu tượng mặt trời mọc với 16 tia tức là 16 giờ của một ngày. Còn số 29 ngày của một tháng được đặt ở vòng số 3 bằng 29 ngôi sao đang vận động xoay quanh mặt trời... Vậy nên, trống đồng Hoàng Hạ còn được gọi là “Thiên đô Hoàng Hạ”.

Những di vật ở di chỉ khảo cổ Đồng Đậu và Gò Mun cho thấy rõ kỹ thuật làm khuôn, cách pha chế quặng với các hợp kim khác để luyện, đúc trống đồng có độ âm vang thật đặc biệt. Xưa kia Trần Phu, một sứ thần nhà Nguyên từng có thơ rằng: “Kim qua ảnh lý đan tân khổ/Đồng cổ thanh trung, bạch cốt sinh”. Nghĩa là: “Trong bóng giáo mác, tâm đau khổ/Nghe tiếng trống đồng tóc bạc phơ”.

Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ở thời Vua Hùng đã có chữ viết? Ý kiến của ông về vấn đề này thế nào?

Có hay không có chữ viết thời Hùng Vương? Đây quả là vấn đề vẫn đang được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và bàn luận.

Theo nghiên cứu của tôi thì thời Hùng Vương đã manh nha xuất hiện những dạng chữ viết, không chỉ thể hiện trên những vách đá hay trên những thanh tre mà còn được viết trên những trang giấy do những người thợ thủ công tạo ra. Trên trống đồng Lũng Cú (Hà Giang) hiện còn nguyên những chữ của người Lạc Việt cổ. Còn trên trống đồng sông Đà, tuy chữ viết không được thể hiện một cách chi tiết, song một loạt hình khắc đã miêu tả chữ viết được sử dụng và thịnh hành trong công việc của bộ máy hành chính điều hành công việc đất nước thời ấy. Thợ thủ công thời Hùng Vương đã khắc họa một loạt Lạc hầu trên trống đồng; người thì viết, người thì đọc văn bản với những tờ tấu thư rộng và dài, giấy thì có dòng; người viết tay trái cầm giấy, tay phải cầm bút, đầu bút nhọn như đầu bút chì... phải chăng đó là hình ảnh thể hiện tinh tế về chữ viết đã có ở thời Văn Lang. Tìm hiểu trên tang trống Hoàng Hạ thấy hình chiến thuyền chở đầy chiến binh, bên cạnh có một con chim đầu mỏ ngậm phong thư. Từ đó có thể suy luận ở thời Hùng Vương đã có chữ viết và tổ tiên ta đã biết cách truyền bá thông tin đi nhanh và đi xa...