Qua hơn 1.000 năm, các cột kinh Phật thời Đinh vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” dù minh văn đã mòn đi ít nhiều, vẫn là những hiện vật có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, tôn giáo.
Mỗi cột kinh đều được tạo từ chất liệu đá xanh, gồm chân tảng, chân đế, thân cột, thớt đệm, đài sen và búp sen. Các phần được ghép với nhau bằng ngõng, mộng, dựng thẳng đứng, không sử dụng chất kết dính. Trên các mặt cột kinh khắc minh văn chữ Hán… Cho đến nay, đây là nguồn sử liệu thành văn duy nhất được lập dưới triều Đinh còn hiện diện. Nội dung minh văn cung cấp nhiều thông tin lịch sử quý giá. Văn tự chữ Hán trên cột kinh không chỉ phản ánh sự kiện lịch sử mà còn nói lên sự phát triển của chữ viết thế kỷ 10. Đây chính là bi ký có niên đại sớm nhất của thời kỳ phong kiến tự chủ đã phát hiện được từ trước đến nay. Sử liệu học chia sử liệu thành hai loại hình chính là “sử liệu vật thật” và “sử liệu thành văn”. Cột kinh Phật thời Đinh mang cả hai loại hình sử liệu này.
Các mặt cột kinh khắc “Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà la ni - là bộ kinh rất phổ biến của Phật giáo Mật tông, đã chứng minh rõ sự hiện diện của Phật giáo Mật tông ở kinh đô Đại Cồ Việt trong thế kỷ 10, cho thấy mối liên hệ, giao lưu tông phái của Phật giáo ở đây. Hình thức cột kinh gắn với Phật giáo Mật tông đã phổ biến ở Trung Hoa từ thế kỷ 8 và thế kỷ 10 đã đến Đại Cồ Việt.
Cột kinh thời Đinh ở Ninh Bình còn độc đáo ở sự khéo léo và thị hiếu tinh tế trong phong cách thẩm mỹ tạo hình. Mỗi cột kinh đều được lắp ghép từ sáu phần, trong đó mỗi bộ phận có chức năng riêng biệt, có hình khối tỷ lệ hài hòa, có sự chuyển đổi khối hình và đường nét mềm mại giữa các bộ phận… Kỹ thuật độc đáo ghép mộng để dựng cột kinh không chỉ đòi hỏi kỹ thuật mà còn cần cả tư duy thẩm mỹ. Các chi tiết chạm khắc chữ trên cột kinh cũng in dấu bàn tay khéo léo của những người thợ đá.
Cột kinh thời Đinh là tác phẩm điêu khắc đá dân gian có tính thẩm mỹ cao. Các chi tiết tạo tác và chạm khắc chữ trên thân cột không chỉ cho thấy đây là một hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử của những nghệ nhân dân gian, mà rộng hơn, còn cho thấy tư duy thẩm mỹ và tạo hình của một thời kỳ mờ xa cách chúng ta hơn 1.000 năm.