Nhớ sao vị ngọt ngào thơ ấu

Một sáng cuối tuần, tôi ghé khu chợ nhỏ quen thuộc gần nhà. Đang mải miết suy nghĩ mua nguyên vật liệu gì thì tiếng rao lảnh lót “Ai chè đậu đỏ, đậu đen, đậu xanh, thập cẩm không?” của một người phụ nữ quẩy quang gánh trên vai đã làm tôi khựng lại.

Các món chè. Ảnh: NAM NGUYỄN
Các món chè. Ảnh: NAM NGUYỄN

Tiếng rao theo cơn gió khẽ đưa tôi về những tháng năm ngọt ngào của ký ức. Ở đó có những ngày tôi lẽo đẽo theo chân mẹ đi chợ hay bao hôm đứng nơi đầu ngõ, ngóng dáng hình quen thuộc để xem trong chiếc giỏ nhựa, mẹ đã mua túi chè mầu gì.

Hồi ấy, ngay lối vào khu chợ nhỏ ở quê tôi, tiệm chè của bà Ba nằm ngay bên tay phải. Bao giờ cũng vậy, người phụ nữ với mái tóc ngả mầu mây, dáng người nhỏ nhắn luôn đội nón lá và vắt thêm chiếc khăn ngang cổ. Thi thoảng bà lấy khăn lau mồ hôi hoặc vén vài sợi tóc giữa trán cho gọn gàng. Gọi là tiệm chè cho cao sang chứ thật ra chỉ là chiếc bàn gỗ hình chữ nhật đã trải qua bao mùa gió mưa để rồi bạc phếch một mầu, đôi chỗ còn lộ rõ vết mòn nứt. Chung quanh ba cạnh bàn, bà đặt thêm ba chiếc ghế dài bao quanh còn phía trong cùng, bà đứng bán và bày biện đủ loại nồi. Mỗi nồi chứa một loại chè khác nhau như chè đậu ván, đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ, chè bắp, khoai môn, chè thơm, mè đen và có cả lá sương sâm vò.

Thuở bé, tôi thích nhất cảm giác háo hức ngồi vào ghế và chờ đến lượt mình. Tôi đưa tay chỉ từng nồi chè rồi bắt đầu đếm từ trái sang phải, từ trong ra ngoài và ngược lại. Hôm nào tiệm chè đông khách, trong lúc ngồi chờ, mẹ sẽ chỉ cho tôi gọi tên chè cũng như phân biệt mầu sắc và kích thước của từng loại đậu.

Vừa đọc nhẩm tôi vừa dõi theo đôi bàn tay thoăn thoắt của bà Ba đang tỉ mẩn dùng chiếc vá nhỏ múc nguyên liệu vào chiếc ly thủy tinh cao. Với khách ăn từng loại chè riêng biệt, bà Ba sẽ múc hai vá rồi thêm đá, cốt dừa lên trên. Riêng chè thập cẩm, với kinh nghiệm bán chè lâu năm từ thời còn con gái, bà Ba chẳng dùng bất kỳ vật dụng nào để cân đo mỗi loại. Có thể ly này nhiều đậu xanh, ly kia nhiều bắp hay hết loại đậu này, bà bù vào loại đậu khác cho đến khi đầy. Nhiều lần bà Ba còn hào sảng tặng thêm cho tôi nửa vá cốt dừa bởi biết tôi thích ăn béo.

Nhận ly chè, tôi đặt xuống bàn và xoay vòng tròn để nhìn cốt dừa len lỏi qua từng lớp đậu, chảy chầm chậm từ miệng ly xuống đáy. Sau đó, tôi dùng muỗng khuấy đều rồi bắt đầu nhấm nháp. Vị bùi bùi của từng hạt đậu, hạt nếp quyện với vị ngọt của đường và beo béo của cốt dừa lẫn chút lành lạnh của nước đá khiến tôi khoái chí.

Cũng nơi quán chè ấy, tôi được lắng nghe những lời hỏi han chân tình. Thoảng bên tai là lời tỉ tê của mẹ tôi với dì Hai, cô Bảy chuyện mùa màng, nương rẫy. Lúc lại nghe bà Ba quan tâm khách bằng giọng trầm lắng khi năm nào đó mưa nắng thất thường. Hoặc có lần bà dúi vào chiếc giỏ xách của hai mẹ con dì Năm bán vé số mấy túi chè rồi xua tay nhất quyết không lấy tiền. Những câu chuyện nho nhỏ như quyện vào lòng tôi dấu ấn ngọt ngào.

Vị ngọt ngào ấy còn vấn vương ở những hôm mẹ đi chợ sớm mà tôi còn say giấc. Đến lúc trở về nhà, trong chiếc giỏ nhựa treo ở đầu xe, mẹ luôn đặt lên trên cùng túi chè của tiệm bà Ba như một món quà dành cho cô con gái nhỏ. Cảm giác ngóng trông mẹ đi chợ về không biết tự bao giờ trở thành hồi ức đẹp đẽ của tuổi thơ. Hay thi thoảng ghé vào khu chợ nào đó, chợt nghe tiếng rao của những bà những mẹ, lòng tôi lại khắc khoải nhớ về giọng đon đả của bà Ba: Ngồi đi con. Hôm nay hai mẹ con ăn chè gì? Chè thập cẩm như mọi khi hay ăn thử chè khoai mì đậu phộng?