Trong lòng thư thả, ông Đuy ô chợt thấy có hai người vừa bước qua cổng. Ông nhận ngay ra người đi đầu là ông đầu bếp của nhà mình, ông Bân, một người đàn ông ba mươi tuổi, tính tình vui vẻ, chăm chỉ việc bếp núc. Còn người thanh niên dáng vẻ thư sinh đi sau ông bếp Bân thì ông Đuy ô thấy là lạ. Thoáng chút suy nghĩ để nhận dạng nhưng ông Đuy ô không biết được đó là ai bởi thường ngày vẫn có những người lao công ngoài phố vào đây quét rác. Bởi thường ngày vẫn có những người lạ tới đây giao đồ thực phẩm. Cũng có khi là người quen của mấy người giúp việc trong nhà.
- Bonjour Monsieur. Bonne matinée! (Chào ông. Chúc ông có một buổi sáng tốt lành) - Ông Bân lên tiếng chào bằng tiếng Pháp sau khi cùng người thanh niên đã vào hẳn trong sân. Hai người dừng lại cùng ngước lên ban-công.
- Ồ. Chào bếp Bân - Ông Đuy ô trả lời bằng tiếng Việt, giọng lơ lớ - Sáng nay ông đưa ai đến đấy?
- Thưa ông chủ - Ông Bân cười to rồi vỗ vỗ vào vai người thanh niên đi cùng đáp lời bằng tiếng Việt - Đây là chú Năm, một người bà con với tôi, chú ấy mới từ trong quê ra để làm nghề dạy học. Xin phép ông chủ cho chú ấy được ở nhờ ít bữa.
- N'hésitez pas (Đừng ngần ngại) - Ông Đuy ô mỉm cười đáp lại bằng tiếng Pháp.
Nắng chang vàng, cái nắng hè nồng nã ấy vậy lại vô cùng dễ chịu khi cả hai bước qua lối cửa nhách ở bên trái ngôi nhà để vào hẳn tầng trệt. Ít nhất là đối với ông bếp Bân bởi ông đang lo là ông chủ không đồng ý. Người thanh niên sau khi đặt chiếc túi đeo vai xuống ghế thì quay sang ông bếp Bân:
- Cảm ơn anh Bân. Anh bố trí chu đáo lắm. Vào đây mát hẳn người anh ạ.
- Chú Năm sẽ ngủ ở đây - ông bếp Bân chỉ tay vào một chiếc phản gỗ - Tuy tôi có nói với ông chủ là chú chỉ tá túc ít ngày nhưng chú có thể ở lâu lâu cũng được - Ông Bân liếc nhìn kiểu đề phòng - Chỉ có điều là chú hạn chế ra ngoài. Càng ít người biết đến sự có mặt của chú trong ngôi nhà này càng tốt. Tôi nói vậy không phải là không tin người Việt mà là ở chỗ người Việt mình tốt quá. Hễ thấy có ai đó mới đến là họ tìm cách lân la làm quen rồi hỏi han, tìm đến hỏi chuyện quê hương.
- Em hiểu rồi. Anh Bân đi lo bếp núc của anh đi.
- Đấy. Nói chuyện bếp núc tôi lại nói thêm. Chú Năm sẽ ăn cùng chúng tôi. Chú không phải lo chuyện cơm nước. Hì hì. Nhà này được cái cũng thoáng với người giúp việc.
*
Sáng hôm sau, anh Năm dậy sớm, thực ra đấy cũng là thói quen lâu nay của anh, làm mấy động tác thể dục ngay trong tầng trệt xong thì anh Năm bước tới khu bếp. Nghe tiếng bước chân đi tới, chị Sen chẳng cần quay lại cũng biết người đang đến là ai. Sớm nay ông Bân đã dặn dò chị.
- Cháu chào ông giáo. Ông giáo không nghỉ thêm chút nữa cho khỏe - Chị Sen lên tiếng hỏi, bàn tay vẫn đều đều lau chùi bệ bếp.
- Ấy chết. Chị Sen gọi như thế không tiện. Chị có việc gì cứ bảo. Tôi không muốn là kẻ ăn chơi ngồi rồi. Tôi còn ít tuổi hơn chị. Chị cứ xưng chị cho gần gụi. Mà chị Sen quê ở đâu nhỉ?
- Cháu quê ở huyện Phụ Dực bên tỉnh Thái Bình ạ.
Anh Năm phì cười, người nhà quê bao giờ cũng thật thà và ăn nói nhường nhịn đến nhún mình. Một thoáng chau mày, anh Năm nghĩ: “Hay là ở quê họ quen bị đè nén mà thành thói quen? Thành bản năng ngay trong cách xưng hô?”.
- Ở quê nhà chị Sen có ruộng không?
- Ấy ông giáo. Nếu nhà có ruộng thì cháu đâu phải đi làm con sen cho người ta.
- Không có ruộng?
- Vâng. Thưa ông giáo. Ở quê cháu chỉ có ông Chánh, ông lý với địa chủ là có ruộng thôi. Người nhà quê làm ruộng thuê của họ. Vụ nào làm xong là bị thu hết thóc.
Anh Năm lặng người. Môi anh cắn chặt. Anh nhớ đến những ngày tháng theo học ở Trường quốc tế Phương Đông bên nước Nga xa xôi. Chính Các Mác đã chứng minh một cách thuyết phục rằng: “Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì chế độ tư hữu về ruộng đất là vô lý nhất và quyền tư hữu về ruộng đất là hoàn toàn vô lý; nói đến quyền tư hữu về ruộng đất chẳng khác gì nói đến quyền sở hữu cá nhân đối với những người đồng loại của mình”. Đây chính là “mâu thuẫn” căn bản nhất đối với xã hội nước ta?
“Người nông dân phải được làm chủ trên chính mảnh ruộng của mình. Phải đánh đổ giai cấp địa chủ cùng những sự đè nén, sự áp bức do chế độ phong kiến đã lạc hậu gây ra đối với người nông dân”.
Anh Năm đứng dậy bước vội tới bàn trà. Anh không rót cốc nước vối mà chị Sen đã ủ sẵn mà cầm vội cây bút mực. Trang giấy trắng ào ạt những dòng chữ mà anh vừa nhận thức được: “Về mâu thuẫn giai cấp ở Đông Dương: Một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ, phong kiến, tư bản và đế quốc chủ nghĩa”.
*
Một sáng chủ nhật. Ông Đuy ô thay vì đứng trước ban-công ngắm phố, ngắm cây, ngắm nắng, thì đích thân ông đi xuống tầng trệt. Rất lịch sự, ông Đuy ô đứng chờ khá lâu sau khi đã gõ mấy nhịp tay vào cánh cửa lối vào nhỏ ngay chân cầu thang. Ông cứ đứng chờ ở đó cho đến khi ông bếp Bân ra mở cửa:
- Bonjour Monsieur. Bonne matinée ! (Chào ông. Chúc ông có một buổi sáng tốt lành).
- Chào bếp Bân. Tôi muốn vào có được không?
- Veuillez venir avec moi (Xin mời đi theo tôi) - Ông Bân nhã nhặn đáp.
- Tôi muốn nói chuyện với người thanh niên hôm trước đã đến cùng ông?
Ông Bân hơi chột dạ, bụng nghĩ nhanh “Không hiểu ông Đuy ô đã có nghi ngờ gì?”. Nghĩ thế nhưng ông Bân vẫn tỏ ra bình tĩnh, ông đứng dịch sang một bên nhường lối cho ông Đuy ô vào hẳn tầng trệt.
- Salut! (Chào bạn).
Ông Đuy ô thể hiện sự thân mật khi vừa giáp mặt anh Năm. Tuy là tầng trệt nhưng nó lại khá rộng và được chia thành nhiều gian nhỏ, những người giúp việc được sắp xếp ở từng gian, do vậy khi nghe tiếng gõ cửa anh Năm đã kịp cất giấu tài liệu rồi đi từ gian dành cho mình ra đón ông chủ.
- Bonjour Monsieur - Anh Năm vui vẻ cất câu chào.
- Je suis content(e) de te voir (Tôi rất vui khi được gặp bạn).
- Je suis content(e) de vous voir (Tôi rất vui khi được gặp ông).
- Chào anh Năm - Ông Đuy ô chuyển sang nói tiếng Việt - Nói chuyện với người An Nam tốt nhất là dùng tiếng của người An Nam.
- Cảm ơn ông đã có nhã ý - Anh Năm vừa nói vừa đi trước, anh dẫn ông Đuy ô tới ngồi bên bàn trà.
- Anh Năm này. Tôi thấy anh không phải là người lao động?
- Vâng. Thưa ông - Anh Năm thoáng phân vân - Như ông đã biết đấy. Tôi là một người dạy học.
- Dạy học. Ô. Bon (Tốt). Anh Năm nói tiếng Pháp rất tốt.
- Cảm ơn ông. Tôi từng học trong trường của người Pháp.
- Anh Năm này - Ông Đuy ô lên tiếng cắt ngang dòng suy nghĩ của anh Năm - Anh nhận xét về người Pháp ở xứ An Nam này thế nào?
Một câu hỏi khó, nếu không muốn nói là rất khó bởi người hỏi lại chính là một người Pháp đang đô hộ người Việt. Nhưng nếu không trả lời khéo, trả lời không thỏa đáng, thì có nguy cơ làm bị lộ thân phận. Anh Năm nở nụ cười để kéo dài thêm thời gian suy nghĩ.
- Chẳng phải chỉ có ở An Nam đâu. Ở bên Pháp cũng có rất nhiều người lao động cực khổ - Ông Đuy ô cười nhạt - Đều là những người vô sản như có lần tôi đã được đọc trên một tờ báo - Ông Đuy ô nhíu mày - Phải rồi. Tờ “Người cùng khổ”. Mà anh Năm biết không? Tờ báo ấy do một người An Nam sáng lập đấy.
Anh Năm ngạc nhiên. Thật không ngờ ông Đuy ô lúc này lại tỏ ra quan tâm đến một vấn đề mà anh đang đau đáu, vấn đề người vô sản ở Việt Nam và ở khắp thế giới. Ở đâu cũng vậy. Người vô sản tuy đông đảo nhất nhưng họ đều là những người cùng khổ nhất.
Trong đầu anh Năm chợt lóe lên suy nghĩ, câu chuyện tưởng như vô tình của ông Đuy ô lại thúc vào tâm trí anh những nhận thức mới: “Vô sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với vô sản thế giới, nhất là vô sản Pháp, với quần chúng cách mạng ở các nước thuộc địa, bán thuộc địa, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ. Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới”.
- À bientôt ! (Hẹn gặp lại) - Ông Đuy ô bất ngờ lên tiếng chào.
- Bon week-end ! (Chúc ông cuối tuần vui vẻ) - Anh Năm đáp lời.
*
Thay cho lời kết.
Sau hơn năm tháng ở trong tầng hầm ngôi biệt thự của ông Đuy ô ở số 7 Rue Jean Soler (nay là nhà số 90 phố Thợ Nhuộm, Hà Nội), một ngày cuối tháng 9 năm 1930, anh Năm, tức đồng chí Trần Phú, được ông Bân đưa ra khỏi ngôi biệt thự, rồi sau đó được tổ chức bố trí bí mật rời Việt Nam. Khi hai người chia tay đồng chí Trần Phú có nói với ông bếp Bân: “Nhờ anh chuyển lời cảm ơn của tôi đến ông Đuy ô. Ông ấy là một người Pháp dễ mến”.
Và từ ngày 14 đến 30 tháng 10 năm 1930, tại Hồng Kông (Trung Quốc) đồng chí Trần Phú đã điều hành Hội nghị thông qua “Luận cương chính trị”, do mình khởi thảo trong thời gian ở trong tầng hầm ngôi biệt thự của ông Đuy ô. Cũng tại Hội nghị này đồng chí Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương.