Nghĩa tình nơi biên giới Việt - Lào

Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo (xã Na Mèo, Quan Sơn, Thanh Hóa), một ngày đầu tháng 11. Trung tá Trần Văn Hoàn, Phó Đồn trưởng Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Na Mèo tất bật hướng dẫn 25 nông dân bản Lơi (huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào) làm thủ tục để vào Việt Nam. Tờ giấy điền thông tin của 25 người có chung một điểm đến: nhà anh Vi Văn Thống, bản Nà Hàng, xã Na Mèo.

Người dân hai bên biên giới thường qua lại giúp đỡ nhau việc đồng áng.
Người dân hai bên biên giới thường qua lại giúp đỡ nhau việc đồng áng.

Không khí cửa khẩu bỗng trở nên rộn ràng. Xêng Thòn, 41 tuổi, người đàn ông lớn tuổi nhất trong đoàn, phải quay sang nhắc nhở các thành viên giữ trật tự. Trung tá Hoàn nhìn tôi, cười nói: “Từ bản Lơi đến cửa khẩu Na Mèo mất khoảng 15 km. Họ đi bộ nên phải thức dậy từ lúc 4 giờ sáng mới kịp bình minh ở cửa khẩu. Phải công nhận là họ có đôi chân dẻo, đi bộ suốt ba giờ đồng hồ mà không ai mệt mỏi”.

Ruộng lúa nhà anh Thống cách Cửa khẩu quốc tế Na Mèo khoảng một giờ đồng hồ đi bộ. Trên tám sào đất được khai hoang từ thời ông nội, gia đình anh Thống mỗi năm gieo hai vụ lúa, vụ nào cũng nhận được sự giúp đỡ của người dân hai bản Lơi và Lán. Mọi năm người dân bản Lán thường sang giúp đỡ gia đình anh thu hoạch. Tuy nhiên năm nay bản gặp chuyện không may, bởi có hai thành viên đi đánh cá bị lũ cuốn trôi. Từ người già đến trẻ con kéo nhau đi tìm suốt một tuần lễ mà không thấy. Vì lý do đó nên họ không thể sang giúp. “Từ khi nghe tin dữ, gia đình tôi, người dân Na Mèo đã tổ chức đi tìm ở những đoạn sông, khúc suối chảy qua địa phương nhưng không thấy. Tranh thủ gặt xong lúa, gia đình tôi sẽ tiếp tục đi tìm”, anh Thống nói.

Ánh nắng buổi sớm mai chiếu xuống, cả cánh đồng nhà anh Thống rực lên sắc vàng. Những bông lúa trĩu nặng, hạt đều tăm tắp, chắc, mẩy, uốn cong mềm mại, ngả vào nhau. Mỗi cơn gió thổi qua, những sóng lúa lại nhấp nhô, xô đuổi nhau chạy mãi vào bờ. 8 giờ sáng, công tác chuẩn bị đã xong, đoàn người hồ hởi xuống ruộng. Người gặt lúa, người bó lúa, người chuyển lúa lên bờ… mỗi người một việc, thực hiện nhịp nhàng.

Đâu đó vang lên những lời hát ngọt ngào của một cô gái làm xua đi nỗi mệt nhọc. Đó là tiếng hát của Nàng Vay, cô gái nhỏ tuổi nhất đoàn, năm nay em vừa tròn 17. Cô thiếu nữ đang độ tuổi xuân, hút hồn người đối diện với đôi mắt đen, to, tròn, giọng hát trong trẻo, cao vút... Mải nghe giọng hát của Nàng Vay bỗng có tiếng gọi giật tôi lại: “Sao đàn ông lại đứng trên bờ thế kia? Đứng trên đó không vui đâu anh, phải xuống lội bùn, gặt lúa với bọn em mới thích”. Thấy tôi ngượng ngùng, cô gái buông lời tiếp: “Tên em là Nàng Nọi, 28 tuổi. Nếu anh muốn tìm hiểu về lịch sử, cuộc sống của người Lào thì mời sang bản em chơi. Đến bản chắc chắn anh sẽ ngạc nhiên vì sự giống nhau về cuộc sống của người dân hai nước”. Tôi hỏi Nàng Nọi: Tại sao nhiều người Lào sang giúp người Việt Nam gặt lúa mà tâm trạng ai cũng hồ hởi? Nàng Nọi cười, trả lời không cần suy nghĩ: Người Việt luôn giúp đỡ người Lào mỗi khi hoạn nạn và khó khăn, chia sẻ kinh nghiệm nuôi trâu bò, cách trồng lúa cho thu hoạch cao, giúp dựng nhà, dẫn nước suối về sinh hoạt… Bộ đội Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Na Mèo còn thường xuyên hỗ trợ thuốc men mỗi khi dịch bệnh…”.

Thấy tôi vẫn còn bối rối, Anh Thống vỗ vai tôi cười: “Họ rất trọng tình nghĩa, người Việt Nam mình giúp đỡ họ thì nếu có cơ hội nhất định họ sẽ trả ơn. Tôi nhớ có lần đi công việc qua đất Lào bị lỡ chuyến xe, may mắn được một gia đình ở bản Lán mời ngủ lại và ăn uống với gia đình. Ngoài bữa cơm rượu thịt thân mật, chủ nhà còn làm lễ “cầu may” cho tôi. Để tăng thêm không khí trang trọng, chủ nhà còn gọi các con ra chắp tay trước ngực chào hỏi. Bất kể trong điều kiện, hoàn cảnh nào người Lào cũng sống chân tình, cởi mở tạo cho khách một cảm giác tự nhiên, thoải mái như ở nhà của mình”.

Trung tá Hoàn chia sẻ: “Việc người dân hai bên biên giới Na Mèo và hai bản: Lán, Lơi, huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, CHDCND Lào qua lại giúp đỡ nhau đã có truyền thống lâu đời. Biên giới chỉ là lằn ranh giới về địa lý, còn tình cảm họ dành cho nhau như thể anh em một nhà. Những dịp ma chay, cưới hỏi hay có công việc quan trọng, người dân hai bên thường qua lại thăm hỏi, động viên, giúp đỡ nhau... Chúng tôi cùng các đồng nghiệp bên phía Cửa khẩu Nậm Sôi luôn phối hợp, tạo điều kiện để người dân hai bên biên giới qua lại một cách thuận lợi, an toàn, đúng pháp luật”.

Cụ Vi Thị Húng, 74 tuổi, mẹ của anh Thống, có lẽ là người hiểu rõ nhất tình cảm của người dân Việt - Lào dành cho nhau. Từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cụ Húng luôn nhớ trong những ngày ác liệt nhất của chiến tranh, núi rừng Viêng Xay - Lào như là cái nôi che chở, ôm lấy bộ đội Việt Nam. “Những lúc bị giặc càn, ném bom người dân Lào ở biên giới luôn hy sinh thân mình để dẫn đường, bảo vệ… Tình cảm đoàn kết, kề vai sát cánh cùng chiến đấu chống kẻ thù chung luôn hiện hữu trong mỗi người dân hai bên biên giới thời điểm đó”, cụ Húng bồi hồi nhớ lại.