Nâng cao năng lực hệ thống y học bào thai

Từ chỗ phát hiện những bất thường trước sinh, y học bào thai Việt Nam đã tiến tới can thiệp, điều trị, cứu sống những thai nhi từng đứng trước tiên lượng dè dặt. Nhưng từ những ca bệnh thành công đến năng lực cứu chữa của cả hệ thống vẫn còn một khoảng cách.

GS Jan Deprest hướng dẫn thực hành trên mô hình bào thai.
GS Jan Deprest hướng dẫn thực hành trên mô hình bào thai.

Để những “kỳ tích” không dừng lại ở một số ca bệnh riêng lẻ, y học bào thai Việt Nam cần chuyển từ năng lực của từng chuyên gia, từng kỹ thuật sang năng lực của một hệ thống đa chuyên khoa, kết nối xuyên suốt từ sàng lọc, chẩn đoán, tư vấn, can thiệp trước sinh đến hồi sức sơ sinh, điều trị sau sinh và theo dõi lâu dài.

Cứu chữa thai nhi ngay từ trong bụng mẹ

Mới đây, tại Hội thảo khoa học quốc tế “Y học bào thai: Từ chẩn đoán trước sinh đến điều trị can thiệp bào thai đa chuyên ngành” diễn ra tại Bệnh viện Đại học Phenikaa (PhenikaaMec), TS, bác sĩ (BS) Nguyễn Thị Sim, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc Trung tâm Y học Bào thai, Bệnh viện Đại học Phenikaa chia sẻ một trường hợp điển hình cho thấy giá trị của mô hình phối hợp đa chuyên khoa. Đó là một thai nhi thiếu máu nặng do bất đồng nhóm máu Rh phải trải qua ba lần truyền máu trong tử cung. Ở lần thứ ba, vào tuần thai 30+4, tim thai giảm, quy trình cấp cứu liên chuyên khoa lập tức được kích hoạt. Sản khoa tiến hành mổ lấy thai khẩn cấp; gây mê hồi sức bảo đảm an toàn cho người mẹ; đội ngũ sơ sinh hồi sức trẻ ngay tại phòng mổ, trong khi chuyên khoa huyết học chuẩn bị nguồn máu phục vụ điều trị sau sinh. Em bé chào đời nặng 1.500g và sau đó phát triển bình thường.

Theo TS, BS Nguyễn Thị Sim, giá trị của ca bệnh không chỉ nằm ở việc thực hiện thành công ba lần truyền máu trong tử cung. Biến cố ở lần can thiệp cuối cho thấy phía sau một kỹ thuật khó phải là một hệ thống đủ năng lực phản ứng trước mọi diễn biến. “Điều quan trọng là chúng ta chẩn đoán có chính xác không, chỉ định can thiệp có đúng không, lựa chọn thời điểm có phù hợp không, người mẹ có an toàn không, đứa trẻ sau sinh có kết quả tốt không... Điều đó cũng có nghĩa, không phải trường hợp nào có thể can thiệp về mặt kỹ thuật cũng nên can thiệp. Mỗi quyết định phải được cân nhắc trên cơ sở tiên lượng toàn diện lợi ích và nguy cơ đối với cả mẹ và thai nhi”, TS, BS Nguyễn Thị Sim nhấn mạnh.

Việt Nam đã từng bước làm chủ một số kỹ thuật chuyên sâu như đặt shunt, truyền máu trong tử cung, laser quang đông... điều trị các bệnh lý bào thai phức tạp. Với hội chứng truyền máu song thai, tỷ lệ ít nhất một thai sống sau điều trị tại một số trung tâm đã đạt khoảng 85-90%. Cùng với những tiến bộ về chuyên môn, hành lang chính sách cũng đang từng bước được hoàn thiện. Từ ngày 1/7/2026, Thông tư 12/2026/TT-BYT của Bộ Y tế có hiệu lực, mở rộng danh mục bệnh bẩm sinh khuyến khích sàng lọc trước sinh, đồng thời đặt yêu cầu cập nhật quy trình sàng lọc, chẩn đoán và điều trị. Đây là cơ sở để từng bước kết nối các khâu từ phát hiện sớm đến tư vấn, điều trị, can thiệp.

“Cùng với đầu tư kỹ thuật, Việt Nam cần phát triển đồng thời đội ngũ đa chuyên khoa, mạng lưới phát hiện và chuyển tuyến, hệ thống dữ liệu và cơ chế kiểm soát chất lượng. Khi những năng lực đang tập trung ở một số chuyên gia, một số cơ sở được tổ chức thành hệ thống, các thành tựu y học bào thai mới có thể chuyển từ những “kỳ tích” đơn lẻ thành năng lực chăm sóc thật sự, bền vững và có thể tiếp cận rộng rãi”, TS, BS Nguyễn Thị Sim cho biết.

Mở rộng cơ hội tiếp cận

Những kết quả bước đầu cho thấy, Việt Nam đã có khả năng làm chủ một số kỹ thuật khó. Tuy nhiên, những tiến bộ rất nhanh của y học thế giới cũng cho thấy, đích đến của y học bào thai không dừng ở khả năng thực hiện thêm một kỹ thuật mới. Theo GS Jan Deprest, Chủ tịch đắc cử Hiệp hội Chẩn đoán Trước sinh Quốc tế (ISPD), một trong những chuyên gia tiên phong về phẫu thuật bào thai: Các hướng nghiên cứu mới đã vượt ra ngoài phẫu thuật, tiến tới điều trị bằng thuốc, tế bào gốc, enzyme; trong khi nội soi với dụng cụ ngày càng nhỏ và phẫu thuật robot đang mở ra khả năng giảm mức độ xâm lấn đối với người mẹ. Bên cạnh đó, sự kết hợp giữa chẩn đoán chính xác và những phương thức điều trị mới đang từng bước mở rộng giới hạn can thiệp đối với thai nhi.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, một trung tâm y học bào thai hiện đại không thể phát triển đơn độc, mà cần sự phối hợp của sản khoa, y học bào thai, di truyền học, chẩn đoán hình ảnh, ngoại nhi, gây mê hồi sức và hồi sức sơ sinh; đồng thời phải được kết nối với mạng lưới chuyển tuyến, đào tạo liên tục, hệ thống dữ liệu và hợp tác quốc tế.

GS, TS, BS Nguyễn Duy Ánh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho rằng, để y học bào thai phát triển bền vững, điều quan trọng trước hết là phải coi thai nhi như một người bệnh thật sự. Việt Nam hiện vẫn thiếu một hệ thống tiêu chuẩn thống nhất về chẩn đoán, quản lý thai kỳ, chỉ định chuyển tuyến và thực hiện can thiệp; trong khi đào tạo chủ yếu vẫn theo hình thức “cầm tay chỉ việc”... Đích đến của y học bào thai vì thế không phải là có thêm bao nhiêu “kỳ tích”, mà là xây dựng được một hệ thống đủ năng lực để mỗi thai nhi mắc bệnh có cơ hội được phát hiện sớm, điều trị đúng thời điểm và chăm sóc lâu dài.