Mùa vải chín

Mùa hạ - mùa lúa chiêm mẩy hạt, mùa nắng như hun than, mưa rào xối xả và mùa vải chín hồng trong gió đung đưa.

Ảnh: ANH QUÂN
Ảnh: ANH QUÂN

Tôi còn nhớ ngày bố mang cây vải đầu tiên về nhà, lúc đó tôi còn chưa biết vị của trái vải như thế nào. Vải ngày ấy là thức quà xa xỉ, đắt đỏ chỉ bán ở những thành phố lớn. Cây vải dễ lớn, hợp thổ nhưỡng và khí hậu vùng đất Kinh Môn - Hải Dương. Mùa đầu tiên cây vải bói được mấy chùm quả, bố lấy lưới trùm kín cả tán cây vì sợ bầy dơi kéo đến ăn trái chín. Bố tôi nói vải phải chín nước ba mới ngon, đừng bẻ nước một nước hai trái vải còn chua, chưa ráo cùi, mỏng vỏ. Tết Đoan ngọ năm ấy, bố gọi chị em tôi dậy bảo ngồi yên trên giường, chưa làm lễ giết sâu bọ thì chân chưa được chạm đất. Bố đặt chùm vải mọng đẹp nhất dâng lên bàn thờ gia tiên rồi chia cho chị em tôi mỗi đứa một chùm vải nhỏ. Giống vải thiều tay mềm, cùi dày hạt nhỏ, vị ngọt mà không gắt, hương vải thơm mãi trong lòng tay, trong trí nhớ.

Cứ như thế cả vườn vải dần mọc lên, xum xuê. Người làng tôi nhân giống, trồng khắp nơi. Đất vườn đào ao thả cá, chung quanh bờ ao trồng vải thiều, vải u hồng, u lai. Vải u hồng, u lai trái lớn, gai sần sù mã đẹp bao giờ cũng chín trước vải thiều nhưng vị chua hơn, hạt lớn hơn. 

Sau mỗi mùa thu hoạch, người dân cẩn thận cắt hết tay vải, xén bớt cành cộc, tỉa lá sâu, cuối năm trên từng tán cây lấp loáng lá non xanh biếc. Qua giêng hai, mưa xuân phơi phới, trời ấm áp cây vải trổ hoa, hoa vải trắng ngà, mỗi cơn gió liệng qua hoa vải rụng như mưa sao. Làng quê ướp hương hoa vải nồng nàn, người dân nuôi ong mật trong vườn, ong thụ phấn cho cây rồi tha mật về tổ. 

Từ những chùm bông trắng muốt ấy, những quả non nhú ra, lớp cùi trắng cứ thế mà dày lên bọc dần dần hạt vải. Mùa vải chín, nhà nhà trải bạt ngồi dưới gốc cây, đàn ông con trai leo trèo, bắc thang bẻ vải, phụ nữ, trẻ em ngồi tuốt lá, nhặt tay khô rồi bó túm. Túm vải bó khéo phải tròn đều chắc tay, những quả đẹp nhất nằm lớp mặt, đến khi cuống vải ngắn túp lại thì thêm vào mấy nhánh lá vải xanh. Vừa bó vải vừa bóc những trái rụng rơi bỏ vào miệng xuýt xoa khen ngọt, khen hạt lép cùi dày.

Người bẻ vải sợ nhất là bọ xít nâu, chẳng may bị chúng tè lên người thì vùng da ấy ngay lập tức bỏng rát, mấy ngày sau da sẽ rộp lên. Vết bỏng ấy rửa nước, bôi kem đánh răng đều không bớt, người ta bóc một quả vải kẹ còn xanh chà lên thì ngay lập tức vết bỏng ấy dịu đi. Những người đi bẻ vải thuê từ vùng khác đến đùm túm theo áo quần. Những cây vải lão cao chót vót, cánh thợ ấy đều không ngại, người nào cũng gầy nhẳng, tay dài như tay vượn khéo léo bẻ vải bỏ vào bao rồi ròng dây thừng thả xuống, người ở dưới lại mắc một chiếc bao không vào đầu dây cho họ kéo lên.

Những người bẻ vải thuê lâu năm thoạt nhìn là biết cây vải nào ngon, cây nào giòn cành sâu cuống. Chủ nhà nhờ họ bẻ vải bẻ luôn cả cành trơ để năm sau cây dễ đâm chồi. Tiền công trả xong còn được biếu thêm túi vải rụng đem về cho con trẻ.

Mùa vải chín rộ trôi qua rất nhanh, hết mùa vải lại đến mùa nhãn lồng, mùa cam, mùa bưởi nồng nàn, mùa hồng, mùa táo. Trái vải bây giờ được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới. Mùa vải ở xứ người cũng được cầm trên tay chùm vải chín mang về thắp hương ông bà rồi chia cho con cháu. Vừa bóc vải vừa thưởng thức hương vị ngọt ngào, thơm thảo, vừa kể chuyện quê mình ngày xửa ngày xưa.