Một mảnh văn hóa biển Chăm

Cư dân Chăm xưa sống dọc bờ biển miền trung ngày nay, qua đó họ đã dựng nên nền văn hóa biển đa dạng và vô cùng độc đáo. Từ giếng vuông Chàm đến Mắm Chăm, từ Ghur (nghĩa trang) Chăm Bà-ni cho đến tục thờ Cá Ông, văn hóa biển dân tộc Chăm còn có mặt sâu đậm trong văn học dân gian lẫn văn học viết.

Độc đáo lễ hội cầu ngư của người Chăm.
Độc đáo lễ hội cầu ngư của người Chăm.

Trước hết, ngay trong lời ăn tiếng nói thường nhật của quần chúng, dấu vết văn học biển tồn tại mồn một. Than vãn, nếu người Việt kêu: trời đất ơi, thì người Chăm: trời biển ơi (Lingik tathik lơy). Người Việt nhìn lên thấy trời, cúi xuống thấy đất; Chăm thì khác, dưới chân họ là mênh mông biển nước. Chăm có làm ruộng (đất), nhưng đó là cánh đồng miền trung nhỏ hẹp bốn mùa hanh gió. Tổ tiên Chăm xưa chủ yếu sống bằng nghề biển, nhờ biển và với biển. Họ kêu trời kêu biển (Ew lingik ew tathik) chứ không phải “la trời la đất” như người Việt. Cũng vậy, người Chăm nói “tối trời tối biển” (Xup lingik xup tathik) khác với người Việt là: (Mưa) tối mù trời đất.

Hẹn giờ giấc lên rừng lấy củi cũng nói: Tuk ia tathik đik - Lúc thủy triều lên (khoảng một giờ sáng). Để chỉ kẻ “nói thánh nói tướng”, Chăm vận đến “biển” với thành ngữ Đom ngauk lingik ngauk tathik - Nói trên trời dưới biển. Gặp thế bí hay đường cùng, họ cũng lấy “biển” ra mà ví: Wơr glai yuw ralai di krưh tathik - Quẩn trí cùng đường như thân ralai giữa biển khơi. Nghĩa là biển tràn ngập đời sống, văn chương và ngôn ngữ Chăm. Cho nên không lạ, khi người Chăm nổi tiếng về nghề biển và nghề đóng tàu thuyền.

Đi biển, người Chăm chế tạo nhiều phương tiện với kích thước và hình dáng khác nhau. Thông dụng là thuyền (gilai), nhỏ hơn là ghe (gaiy). Gắn với thuyền có “bè” (rakik) như là phương tiện phụ để vận chuyển từ thuyền này sang thuyền khác, hay từ thuyền về đất liền. Thuyền cũng có loại thuyền độc mộc mà Chăm gọi là pluk, và thuyền thúng (janưk patih). Phương tiện lớn hơn là tàu (kapal) hay loại tàu lớn (ahauk, gilai ahauk) có khả năng viễn dương. Ppo Tang Ahauk đã sử dụng loại tàu này.

Tàu ông dài 37 sải tương đương với 60 m - con số tượng trưng với không ít phóng đại, dẫu sao nó cho ta hình dung ông đang điều khiển con tàu rất lớn ở thời điểm đó của lịch sử. Con tàu chứa cả đoàn người cùng bao nhu yếu đáp ứng đầy đủ sinh hoạt của con người. Nó lớn đến không thể ghé đất liền mà chỉ tạt qua cù lao để lấy củi, nước ngọt. Tác giả Damnưy không cho ta biết tên cù lao, nhưng người đọc vẫn có thể tưởng tượng đó có thể là Cù Lao Chàm hay ít ra cũng là đảo Phú Quý của hôm nay.

Dĩ nhiên đi biển, điều không thể thiếu là lễ hạ thủy tàu thuyền mới với những lễ vật và bài phù chú rất đặc trưng Chăm. Người Chăm đa thần, và sống quan hệ mật thiết với biển, cho nên trong đời sống tâm linh họ thờ Thần Sóng (Po Riyak), Thần Biển (Yang Tathik) là điều không lạ. Những lúc lên rừng xuống biển (Trun tathik đik glai) gặp bao bất trắc hiểm nguy, người Chăm luôn cậy đến Thần Biển phò trợ độ trì. Chú ý, Thần Biển chứ không phải Thổ Thần, cho dù đây cũng là vị thần có vị thế đáng kể trong đời sống tâm linh Chăm, nhưng chính Thần Biển mới đóng vai trò quan trọng. Ở Ninh Thuận hiện vẫn còn tồn tại các thầy cúng chuyên hành nghề này.

Ông Bá Đến 66 tuổi làng Phước Nhơn, xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, gia đình truyền thống cấp Mưdwơn, là Thầy Vỗ (chủ lễ Rija). Ông được các ngư dân Việt từ Bình Định, Vũng Tàu mời đến làm lễ Hạ thủy tàu thuyền (Patrun gilai). Lạ, đại đa số ngư dân Việt tin các ông thầy Chăm đọc kinh lễ tẩy trần, mới linh.

Lễ Hạ thủy tàu thuyền có hai dạng: Thuyền cũ cho mùa mới, hay thuyền hoàn toàn mới để lần đầu tiên ra khơi. Dạng thứ nhất, lễ vật có một con gà nướng, một chén xôi, một chén chè, hai quả trứng gà luộc, năm miếng bánh, trầu cũng têm năm miếng. Ở dạng thuyền mới, lễ vật cần thêm: lưới, thúng thóc; trên thúng thóc là cây nến với nải chuối.

Con thuyền được đặt trên cạn trước mặt sóng biển mênh mông, ông Thầy đứng ngay đầu thuyền hành lễ. Tuần tự: ông Trình về bản thân (Akhan ka drei); sau đó làm lễ Mời Thần (Da-a Yang), từ thần Tháp cho đến 37 vị Thánh, có cả Thần người Việt; cuối cùng là Đọc kinh Lễ (Ricauw) với Thần chú Tẩy uế (Mưrôy). Có bảy Kinh lễ cả thảy. Thử trích đoạn:

Kuw nau bitơl haluw janưk kuw ricauw kuw patalơh

Kuw apah di kauk gilai blauh kuw tanra di atara

Kuw patalơh di ngauk adơrha ala tanưh riya

Kuw patalơh di patuw di kayuw

Kuw patalơh di glai pamưtai rimaung

Kuw patalơh di kraung pamưtai pataw ikan

Kuw patalơh di tơng pamưtai biya

Kuw Po jallidi…

Ta đi xuống tận đáy sân si, ta tẩy trần mọi uế tạp

Ta vỗ lên đầu thuyền, ta gạt ngang khoảng không gian

Ta tẩy rửa mọi uế tạp trên trời dưới đất

Ta tẩy rửa trên đá tảng trong tàn lá

Tẩy rửa trên rừng ngàn, ta hạ thủ chúa sơn lâm

Tẩy rửa dưới sông rộng, ta giết chết loài kình ngư

Tẩy rửa trong vịnh sâu, ta đuổi tiệt loài sấu

Chúa tể đại dương là ta…

Ta đã là chúa tể Đại dương, ta tự tin và dũng mãnh lên thuyền đi ra biển lớn.