- Theo những gì anh nghiên cứu thì có thể lý giải vì sao “mô hình giáo dục mở” ở ta mặc dù có sớm nhưng lại không phát triển?
- Theo tôi, trước khi đi tìm được nguyên nhân của vấn đề này, cần hiểu về giáo dục mở là mô hình giáo dục được thiết kế để mở rộng sự tiếp cận việc học tập so với giáo dục chính quy thông thường, bằng nhiều biện pháp, trong đó đặc biệt nhấn mạnh sự phát triển nguồn tư liệu giáo dục mở trong mọi môi trường học tập dựa trên bốn nguyên tắc cốt lõi: “mở cho người học, mở về địa điểm, mở về phương pháp và mở về ý tưởng” (Open to People, Open to Places, Open to Methods and Open to Ideas).
Hai đại học mở dù có nhiều chương trình giáo dục để gia tăng người học, xóa bỏ cách biệt về địa lý nhưng khó đáp ứng được nguyên tắc “mở cho người học” bởi vẫn phải tuyển sinh theo các tiêu chí của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngoài ra phương pháp giảng dạy cùng nội dung chưa cập nhật kịp các xu hướng phát triển mới cũng là trở ngại cho tiêu chí hình thành giáo dục mở.
Các hệ giáo dục từ xa ở một số trường đại học mặc dù đã có những bước tiến lớn nhưng đang bộc lộ nhiều bất cập, như: một số trường chỉ chạy đua về phát triển số lượng mà chưa quan tâm đến chất lượng đào tạo. Nhiều chứng chỉ, bằng cấp của hình thức đào tạo từ xa vẫn chưa được xã hội mà đặc biệt là doanh nghiệp thừa nhận.
- Vấn đề của 4.0 có lẽ phải là “Tư duy mở” trong giáo dục đại học. Theo anh, để phát triển giáo dục mở, giáo dục sáng tạo ở Việt Nam cần những yếu tố nào?
- Giáo dục là một trong những lĩnh vực chịu sự tác động của CMCN 4.0 nhanh hơn cả bởi chính giáo dục cũng sẽ tạo ra những phiên bản mới của các cuộc CMCN tiếp theo. Tôi nghĩ Việt Nam cần sớm tạo một môi trường học tập mở, rộng khắp hình thành giáo dục mở, giáo dục sáng tạo ở Việt Nam. Theo đó, trước hết, các cơ sở giáo dục cũng như Chính phủ cần quan tâm ứng dụng Tài nguyên giáo dục mở (Open Educational Resources - OER) để có thể thay đổi phương thức học tập, sớm hoàn thành chủ trương xây dựng xã hội học tập thật sự với những lợi ích to lớn đem lại, như: Gia tăng sự bình đẳng học tập, tiết kiệm kinh phí, giữ cho nội dung thích hợp và chất lượng cao và các OER trang bị cho các giáo viên như những nhà chuyên nghiệp sáng tạo bằng việc trao cho họ khả năng tùy biến thích nghi các tư liệu học tập để đáp ứng được các nhu cầu của các sinh viên mà không vi phạm các luật bản quyền.
Các cơ quan quản lý có liên quan mà đặc biệt Bộ GD - ĐT cũng cần sớm đề xuất và khuyến khích chính sách xây dựng giáo dục mở để Việt Nam sớm hình thành xã hội học tập đòi hỏi sự học tập thường xuyên, liên tục, suốt đời.
- Trong bối cảnh tiềm lực phát triển chưa được đồng đều giữa các vùng miền, khiến việc tiếp cận Tài nguyên giáo dục mở (OER) gặp không ít khó khăn?
- Giáo dục Việt Nam muốn đón đầu các thành tựu khoa học của cuộc cách mạng này cũng sẽ gặp những trở ngại nhất định. Trong đó có việc định hình lại phương thức dạy và học tại các trường khi các kiến thức nền tảng đã được mở rộng tiếp cận. Ngoài ra, các nội dung giảng dạy cũng cần cải thiện rất nhiều bởi các kiến thức nền tảng đã được sinh viên tiếp cận dễ dàng tại bất cứ đâu, giảng viên cần dành nhiều thời gian hơn để giải đáp các thắc mắc và hướng dẫn sinh viên ứng dụng thực tế các kiến thức đó.
Ngoài ra, việc thay đổi cách nhìn về các hệ đào tạo từ xa cũng cần thiết với việc kiểm soát chất lượng tốt hơn, những bằng cấp đào tạo từ xa sẽ gắn liền với uy tín của các trường cấp để các trường có trách nhiệm hơn. Chúng ta phải khôi phục niềm tin của xã hội vào hệ đào tạo từ xa, qua đó lấy lại niềm tin vào giáo dục mở.
- Rõ ràng, giáo dục đại học trong nước đang đối diện với nhiều thách thức?
- Các nước ASEAN đã ký kết các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRAs - Mutual Recognition Agreement), theo đó cho phép chứng chỉ của lao động lành nghề được cấp bởi các cơ quan chức năng tương ứng tại một quốc gia sẽ được thừa nhận bởi các nước thành viên khác trong khu vực. Điều này đã tạo điều kiện cho phép lao động tay nghề cao trong các nhóm ngành này được phép tự do lưu chuyển giữa các quốc gia trong khối, nâng cao tính cạnh tranh trong thị trường lao động nhóm này, đồng thời cũng tạo áp lực cạnh tranh về nhu cầu việc làm tại các quốc gia có chất lượng nguồn nhân lực còn thấp.
Chúng ta nên thắt chặt việc mở trường đại học, kiểm soát số lượng và chất lượng sinh viên theo hình thức đào tạo thông thường. Đồng thời, để giải quyết nhu cầu nhân lực chất lượng cao phục vụ cho phát triển, nên nghĩ đến hướng phát triển hình thức giáo dục mở và sớm ứng dụng các thành tựu của CMCN 4.0 vào giáo dục Việt Nam. Việc ứng dụng hiệu quả OER còn nhiều khó khăn nhưng những lợi ích mà nó đem lại thôi thúc Việt Nam không thể mãi dửng dưng mà phải sớm có cơ chế, chính sách thúc đẩy, khuyến khích sử dụng tại các trường, hệ thống giáo dục ở Việt Nam.
- Xin cảm ơn anh!

Cần sớm có cơ chế, chính sách thúc đẩy việc ứng dụng hiệu quả OER. Ảnh: ANH ĐỨC