ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV VÀO CUỘC SỐNG:

Gỡ "điểm nghẽn" bảo đảm tăng trưởng thực chất

LTS: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đưa ra nhiều định hướng quan trọng với các quan điểm chỉ đạo, các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu và định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030. Cùng với đó là các nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược.

Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Hồng Thái kiểm tra tiến độ triển khai dự án trên địa bàn.
Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Hồng Thái kiểm tra tiến độ triển khai dự án trên địa bàn.

Báo Thời Nay triển khai đăng tải các bài viết về chủ đề đưa nghị quyết Đại hội XIV vào cuộc sống với đề tài đa dạng, trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, đối ngoại, an ninh-quốc phòng... Mong đón nhận các bài viết, ý kiến, đề xuất tâm huyết của các chuyên gia, tác giả về vấn đề này.

Phần II - Tầm nhìn và định hướng phát triển của Nghị quyết, trong đó, phần "Quan điểm chỉ đạo" đã xác định: "Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, kiên quyết tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực". Theo đó, một trong những nguyên tắc cốt lõi của mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm quán triệt là bảo đảm tính thực chất, kiên quyết loại bỏ tư duy chạy theo thành tích, không đánh đổi chất lượng lấy tốc độ. Trong bối cảnh áp lực tăng trưởng ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra là phải có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực thi, khơi thông các điểm nghẽn căn bản, với phương châm “Lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả”.

Gắn trách nhiệm cá nhân vào nhiệm vụ chung

Thời gian qua, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh thường xuyên thảo luận, định hướng xây dựng mô hình phát triển mới, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững. Thực tiễn nhiệm kỳ 2021-2025 cho thấy, dù quy mô kinh tế đứng thứ 5 cả nước, song khu vực FDI vẫn chiếm tới 88% giá trị sản xuất, đặt ra yêu cầu phải nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, tỉnh xác định mô hình tăng trưởng mới theo hướng: “Đầu tư nước ngoài dẫn dắt - đầu tư trong nước phát triển - nội lực bứt phá - công nghệ làm nền tảng - đổi mới sáng tạo làm động lực”. Mục tiêu không chỉ duy trì tăng trưởng hai con số, mà quan trọng hơn là bảo đảm tăng trưởng thực chất, nâng cao sức chống chịu và tính độc lập của nền kinh tế.

Thừa nhận chất lượng nội lực của nền kinh tế chưa đáp ứng yêu cầu, đồng chí Mai Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh cho biết, khu vực FDI vẫn giữ vai trò chủ đạo, trong khi doanh nghiệp nội địa, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa tham gia được sâu vào chuỗi giá trị. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thống nhất quan điểm phải chủ động đối mặt với khó khăn, thách thức. Nếu không nâng cao “sức đề kháng” và tính tự chủ của khu vực kinh tế trong nước, mục tiêu tăng trưởng bền vững sẽ khó đạt được.

Trên cơ sở mô hình tăng trưởng mới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh đã thống nhất giao 417 nhiệm vụ trọng tâm cho người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương trong năm. Trong đó, các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực HĐND và lãnh đạo UBND tỉnh, mỗi người đảm nhận tối thiểu 3 nhiệm vụ, gắn trực tiếp với trách nhiệm cá nhân; kết quả thực hiện được đưa vào đánh giá định kỳ hằng quý và cuối năm. Việc phân công rõ người, rõ việc, gắn trách nhiệm với kết quả cụ thể được kỳ vọng tạo chuyển biến thực chất, từng bước định hình mô hình tăng trưởng mới của Bắc Ninh theo hướng hiện đại, bền vững, dựa trên nội lực.

162.jpg
Chuyển đổi mô hình cụm công nghiệp sinh thái tại KCN Nam Đình Vũ.

Khơi thông nút thắt về thể chế

Tăng trưởng hai con số là mục tiêu đầy thách thức, đòi hỏi quyết tâm chính trị phải được cụ thể hóa bằng những cải cách thực chất. Năm 2025, thành phố Hải Phòng đạt mức tăng trưởng GRDP 11,81%, đứng thứ hai cả nước, đồng thời là địa phương duy nhất duy trì đà tăng trưởng hai con số trong suốt 11 năm liên tiếp, với quy mô kinh tế xấp xỉ 30 tỷ USD. Để giữ vững động lực này, Đại hội Đảng bộ thành phố xác định tái cơ cấu ngành công nghiệp, trong đó phát triển các khu công nghiệp sinh thái là một hướng đi chiến lược.

Trong bức tranh ấy, Khu công nghiệp (KCN) Nam Đình Vũ, với quy mô 1.329 ha và hạ tầng đồng bộ, hiện đại, được xem là một điển hình. Những năm gần đây, KCN này từng bước triển khai lộ trình chuyển đổi sang mô hình cụm công nghiệp sinh thái. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà còn đặt ra những lựa chọn khó trong thực tiễn. Ngay từ đầu năm nay, doanh nghiệp đã phải cân nhắc việc chấp thuận dự án 120 triệu USD chuyên nhập khẩu phế liệu kim loại để tái chế sản xuất nhôm cường độ cao. Dự án hứa hẹn nguồn thu lớn, song cũng kéo theo yêu cầu cao về tiêu thụ năng lượng, xử lý nước thải và tiềm ẩn rủi ro môi trường. Đây là bài toán không dễ dung hòa giữa tăng trưởng và phát triển bền vững.

Chia sẻ về những áp lực trong quá trình chuyển đổi, ông Nguyễn Thành Phương, Tổng Giám đốc Tập đoàn Sao Đỏ, chủ đầu tư KCN Nam Đình Vũ cho biết, không có “công thức” chung để giải quyết trọn vẹn bài toán này. Trong khi các bộ phận, nhất là khối kinh doanh, luôn chịu áp lực hoàn thành chỉ tiêu, lãnh đạo tập đoàn xác định phải chấp nhận đánh đổi một phần tốc độ tăng trưởng. Tiến độ thu hút đầu tư có thể chậm lại 2-3 năm, nhưng đó là điều cần thiết để bảo đảm chất lượng và hiệu quả lâu dài.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ năng lực để theo đuổi lựa chọn này, nhất là khi cơ chế, chính sách và quy định pháp luật còn thiếu đồng bộ. Theo bà Nguyễn Thị Bích Dung, Phó Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, dù pháp luật đã quy định các tiêu chuẩn về môi trường như kiểm soát xả thải, sử dụng tài nguyên…, song các tiêu chí còn thiếu thống nhất, gây khó khăn trong áp dụng. Đặc biệt, nhiều yêu cầu của mô hình KCN sinh thái vẫn là thách thức, nhất là đối với các doanh nghiệp đã hoạt động ổn định từ trước.

Những điểm nghẽn về thể chế không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực công nghiệp, mà còn hiện hữu ở nhiều lĩnh vực then chốt như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số… Bàn về vấn đề này, GS, TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân nhận định: Việt Nam không thiếu các định hướng đúng, nhưng quá trình hoàn thiện và tháo gỡ thể chế còn chậm, việc tổ chức thực thi thiếu đồng bộ. “Điểm nghẽn thể chế hiện là rào cản lớn nhất cần được khơi thông để tạo động lực cho tăng trưởng hai con số theo hướng thực chất, hiệu quả”, ông nhấn mạnh.

TS Nguyễn Trí Hiếu, Viện trưởng Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu cho rằng, một trong những rào cản lớn hiện nay là cách thực thi còn cứng nhắc. Việc áp dụng quy định theo hướng máy móc, thiếu chủ động, linh hoạt trong xử lý tình huống phát sinh đang làm giảm hiệu quả điều hành. Khi đội ngũ cán bộ thiếu tinh thần đổi mới, chỉ dừng lại ở việc “làm đúng quy trình”, bộ máy dễ rơi vào trì trệ.

Kiến tạo phải từ trên xuống và từ dưới lên

Phát triển thực chất phải bắt đầu từ quá trình thực thi thực chất. Để khơi thông điểm nghẽn, tháo gỡ khó khăn và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bền vững, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải vào cuộc quyết liệt, dám nghĩ, dám làm và chịu trách nhiệm đến cùng. Câu chuyện của Công ty Hanel PT - doanh nghiệp khoa học và công nghệ tiêu biểu tại Bắc Ninh cho thấy rõ những vướng mắc trong thực tiễn. Với 26 năm hoạt động, chuyên sản xuất linh kiện điện tử cho khu vực FDI, đồng thời sở hữu công nghệ sấy thăng hoa phục vụ bảo quản, nâng cao giá trị nông sản, thực phẩm, song đến nay doanh nghiệp vẫn chưa hoàn tất thủ tục công nhận là doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Ông Trần Đức Tùng, Phó Tổng Giám đốc Công ty chia sẻ: Vướng mắc hiện nay nằm ở các quy định về tiêu chí để được công nhận là doanh nghiệp khoa học công nghệ. Hiện công ty đang tiếp tục hợp tác với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh để hoàn thiện hồ sơ.

Lý giải nguyên nhân, ông Nguyễn Phúc Thương, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Ninh cho biết, dù đã có các quy định pháp luật khuyến khích phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nhưng quá trình triển khai vẫn phát sinh vướng mắc do cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các cơ quan quản lý. Nhiều nội dung địa phương phải xin ý kiến Trung ương, song phản hồi còn chậm, chưa đầy đủ, khiến việc xử lý khó khăn chưa kịp thời.

Thực tế cho thấy, doanh nghiệp khoa học công nghệ không chỉ cần được công nhận về mặt danh nghĩa, mà còn cần các hỗ trợ thực chất về hạ tầng, thiết bị, cơ chế tài chính và chia sẻ rủi ro; đặc biệt là vai trò dẫn dắt của nhà nước trong việc tạo lập thị trường ban đầu cho sản phẩm. Nếu thiếu sự vào cuộc quyết liệt để tháo gỡ vướng mắc, đưa chủ trương vào cuộc sống, mục tiêu đưa khoa học và công nghệ trở thành động lực tăng trưởng sẽ khó đạt được.

Tăng trưởng thực chất vì thế phải được kiến tạo đồng thời từ cả hai chiều, từ trên xuống và từ dưới lên, lan tỏa qua từng mắt xích của nền kinh tế, từ hộ gia đình, cơ sở sản xuất đến doanh nghiệp. Trong đó, then chốt vẫn là vai trò dẫn dắt và tổ chức thực thi.