Ngoài những bức ảnh phản ánh chân thực và sinh động đời sống thợ mỏ, anh còn sở hữu một “kho tàng” những câu chuyện thú vị ít người biết về mỏ Mạo Khê và ngành than, khiến ngay cả những cán bộ lâu năm trong ngành cũng phải ồ, à.
Trong lúc vui chuyện, anh Hùng kể dăm bảy năm trước, một chuyến công tác, anh đã “bật mí” với bác Đoàn Văn Kiển, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị TKV về cụ Vũ Đức Lệ, thợ lò 100 tuổi ở mỏ Mạo Khê trước đây. Ngay sau khi kết thúc chuyến công tác, ông Đoàn Văn Kiển đã quay lại Mạo Khê, cùng lãnh đạo Công ty than Mạo Khê đến tận nhà cụ thăm và tặng quà. Cụ Lệ thọ 103 tuổi và đã mất cách đây ít lâu. Anh cho biết, theo như anh nắm được, người đang giữ “kỷ lục” cao niên nhất của mỏ Mạo Khê (và có thể cả ngành than) hiện nay là cụ Phạm Văn Ngung, đang ở thành phố Hải Phòng, điều đặc biệt là cụ vẫn rất minh mẫn.
Dịp cận Tết Nguyên đán vừa qua, chúng tôi “bắt” bằng được anh Hùng dẫn sang nhà cụ Ngung, ở khu 2, Minh Tân, phường Nhị Chiểu (thành phố Hải Phòng), trước đây là phường Minh Tân, huyện Kinh Môn (Hải Dương). Đón chúng tôi ngoài sân là anh Phạm Văn Tư, con trai cụ Ngung. Anh cũng khiến chúng tôi “mắt tròn mắt dẹt” vì đã ngoài 70 tuổi nhưng vẫn sở hữu vóc dáng to cao, rất thanh niên phong độ. Nghe tiếng gọi, cụ Ngung chống gậy từ nhà trong đi ra, còn khá nhanh nhẹn, chắc chắn, không phải dò dẫm từng bước.
Theo trí nhớ và giấy tờ tùy thân còn giữ lại, cụ Ngung sinh năm 1920, tính cả “tuổi mụ” thì năm nay cụ đã bước sang tuổi 107. Cần phải nói thêm rằng, những người sống thọ hơn 100 tuổi ở Việt Nam tuy không quá hiếm nhưng cũng không nhiều, và nghề thợ lò, với đặc thù công việc “ăn cơm trần gian, làm việc địa phủ”, đặc biệt nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, để thọ hơn 80 tuổi khá hiếm hoi. Cụ Ngung sinh được 9 người con, hiện ở với vợ chồng anh Tư. Anh cho biết, cho đến tận bây giờ, hằng ngày anh chưa phải phục vụ gì cho bố, ngoại trừ mấy bữa ăn. Hơn 100 tuổi, cụ gần như chưa từng ốm đau, vẫn tự làm mọi việc sinh hoạt cá nhân. Cụ là người rất khéo tay, sáng ý, việc gì cũng biết làm.
Lúc còn là thợ lò, những việc khó, đòi hỏi sự sáng tạo, cụ luôn là người được tin tưởng giao nhiệm vụ. Sau khi nghỉ hưu, cụ còn đi khai khẩn ruộng đất, cần mẫn xây dựng nên ngôi đền, trở thành nơi tổ chức lễ hội đầu năm của xóm làng rất vui vẻ, đoàn kết. Cách đây hai năm, khi chống gậy ra đường chơi, thấy nhóm thợ dựng nhà lắp cửa, cụ còn phát hiện thợ lắp cửa bị sai và chỉ dẫn cách lắp đúng khiến nhóm thợ phục lăn. Hằng ngày, cụ ăn uống đơn giản, sáng ăn bát cháo đường nhỏ, bữa chính ăn như mọi người, không phải kiêng khem gì khác biệt.
Trong khoảng 1 giờ đồng hồ nói chuyện với chúng tôi, cụ vẫn vui vẻ uống hết 1 lon bia và câu chuyện về thời làm “min-nơ” (thợ lò, phiên âm tiếng Pháp) của cụ rất hóm hỉnh, mạch lạc. Do nhà nghèo, lúc 17-18 tuổi, như nhiều thanh niên trong làng, cụ Ngung đăng ký làm công nhân mỏ Mạo Khê, ngày ngày đi cuốc lò. Thời Pháp thuộc, Mạo Khê được gọi là “mỏ nhà quê” do nằm giữa vùng bán sơn địa hoang vắng, chủ trả công rất rẻ mạt. Nhóm thợ lò của cụ phải đi đò qua sông, cuốc bộ hơn 10 cây số mới tới được mỏ. Trong lò, những người thợ lầm lụi làm việc từ sáng sớm đến tối mịt, bùn ngập ngang cổ chân, dưới ánh sáng leo lét của chiếc đèn “con gà” đốt bằng dầu lạc.
Mọi việc từ đào lò đá, khai thác, vận chuyển đều làm thủ công, lò giếng sâu 40 m vẫn chỉ đội thúng than trên đầu. Thợ lò, kể cả phụ nữ cũng chỉ mặc quần đùi, đầu quấn lá chuối khô, cõng thúng than nặng oặt cổ, gần như phải bò trong đường lò quá thấp. “Thợ lò lúc đó đói khổ lắm, những ngày rét mướt tan ca, anh em chúng tôi trên đường về tranh thủ vơ lá, nhặt cành củi khô tới suối Bảo Đài đốt lửa lên lấy hơi ấm rồi nhào xuống tắm, thủ sẵn miếng xơ mướp già từ nhà đi để kỳ cọ mới hết được bụi than, lúc bước lên bờ hơi bốc lên ngùn ngụt. Về đến nhà thường tầm 9-10 giờ đêm, có hôm muộn quá gọi đò khản cổ. Quần áo không đủ mặc, phải cắt cỏ lông lợn trải dưới giường mới ngủ được”, cụ Ngung kể. Cụ chìa cho chúng tôi xem đôi bàn tay có những nốt đen mờ chi chít dưới da, dấu vết của thời làm thủ công, bị những vảy than li ti găm sâu vào da thịt.
Khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám nổ ra, chàng thanh niên Phạm Văn Ngung đã xung phong đi bộ đội đánh giặc, ở Đại đội 38, Trung đoàn 98, Quân khu Tả ngạn (cũ, nay là Quân khu 3). Sau những trận chiến ác liệt đánh đường số 4, đường 13, cụ Ngung bị thương vào đầu, “mảnh đạn chỉ xuyên vào sâu thêm cỡ hạt tấm nữa thôi là tôi đã xong rồi”, cụ cười vui vẻ. Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, cụ Ngung trở về quê và lại tiếp tục làm thợ lò tại mỏ Mạo Khê. Lúc đó, thợ lò tuy vẫn lao động nặng nhọc, vất vả nhưng so với thời Pháp đã tiến bộ hơn rất nhiều, được cấp quần áo bảo hộ, mũ ủng, ăn uống đầy đủ, hết ca được tắm nước nóng. Đến năm 1971, cụ Ngung được nghỉ hưu, sau hơn 50 năm, đến giờ cụ vẫn nhớ người ký quyết định nghỉ hưu là Phó Giám đốc mỏ Trần Trọng Trì, còn Giám đốc mỏ lúc đó là ông Hà Thế Tiến.
Trong những năm gần đây, mỏ than Mạo Khê thay đổi “một trời, một vực”, công nhân được chăm sóc hết sức chu đáo, mỗi năm hàng trăm công nhân được công ty cho đi điều dưỡng, phục hồi sức khỏe; hoặc hỗ trợ nghỉ mát, điều trị tại các điểm nghỉ dưỡng, du lịch,... Trong chiến lược phát triển bền vững, việc đổi mới công nghệ, ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất được Công ty than Mạo Khê coi là chiến lược hàng đầu để xây dựng mỏ sáng-xanh-sạch-đẹp, mỏ hiện đại, mỏ an toàn. Công ty đặc biệt chú trọng đầu tư cơ giới hóa, tự động hóa trong sản xuất để cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao thu nhập cho thợ mỏ. Bây giờ, nếu như cụ Ngung vào lò, hẳn không thể hình dung những thiết bị, công nghệ hiện đại Mạo Khê đang áp dụng trong lò chợ như hệ thống chống giữ lò; xe khoan tại các lò dọc vỉa; hệ thống thông gió, thoát nước, đo khí; băng tải vận chuyển than,…
Năm 2025 vừa qua, trong bối cảnh sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn, nhưng Mạo Khê vẫn phát huy tinh thần đoàn kết, hoàn thành kế hoạch khai thác 2,5 triệu tấn than nguyên khai; tiêu thụ vượt kế hoạch; doanh thu, lợi nhuận tăng so với cùng kỳ. Việc làm và thu nhập của người lao động được giữ vững, thu nhập thợ lò bình quân đạt hơn 27 triệu đồng/tháng.
Ông Nguyễn Văn Hải, Giám đốc công ty cho biết: Năm nay, Than Mạo Khê đặt mục tiêu sản xuất 2,65 triệu tấn than nguyên khai; đào 19 km đường lò chuẩn bị sản xuất; đào lò xây dựng cơ bản hơn 3,3km; tiêu thụ 2,588 triệu tấn than; doanh thu 3.673 tỷ đồng. Để duy trì sản xuất ổn định, bền vững, Than Mạo Khê đang triển khai dự án khai thác hầm lò xuống sâu từ mức âm 150 m đến âm 400 m, công suất 2 triệu tấn/năm, dự kiến hết năm nay sẽ hoàn thành xây dựng cơ bản và từ năm 2028, sẽ đạt công suất thiết kế 2 triệu tấn/năm. Ngoài ra, đơn vị cũng chủ động lập các dự án liên quan môi trường, tự động hóa tuyến băng tải, trạm quạt,… nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường.