Không thể chống theo cách truyền thống
Công điện 38/CĐ-TTg ngày 5/5/2026 đặt ra yêu cầu tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt đấu tranh với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trong nhiều năm, thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới thường được hiểu là kiểm tra, giám sát và tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có dấu hiệu xâm phạm. Cách hiểu đó đúng, nhưng chưa đủ bởi hàng giả hiện nay không chỉ được vận chuyển dưới dạng một lô hàng lớn, dễ nhận diện, có người gửi và người nhận rõ ràng.
Hàng hóa vi phạm được chia nhỏ, gửi qua bưu điện, chuyển phát nhanh, thương mại điện tử... Với tần suất lặp lại liên tục lớn, nó tạo thành một lượng hàng lậu đáng kể.
Vì vậy, không thể chỉ chờ hàng đến cửa khẩu rồi mới nhận diện bằng mắt thường. Cơ quan chức năng cần có trong tay dữ liệu về quyền sở hữu trí tuệ, hàng thật, hàng giả... trước khi lô hàng đến.
Thí dụ, mỗi bưu kiện chỉ chứa vài sản phẩm, giá trị khai báo không lớn, người gửi và người nhận thay đổi liên tục. Nếu nhìn riêng từng kiện, dấu hiệu vi phạm có thể không rõ. Nhưng nếu có dữ liệu sẽ cho thấy các kiện hàng có cùng kiểu bao bì, cùng dấu hiệu gắn nhãn, cùng tuyến vận chuyển, cùng nhóm người nhận hoặc cùng liên hệ với một gian hàng trực tuyến. Qua đó, cho thấy cả một mạng lưới phân phối hàng giả phía sau.
Nhưng nếu kiểm soát quá rộng cũng có rủi ro. Trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ, cần phân biệt hàng giả, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý và hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Những vụ liên quan đến dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn, đại lý, gia công, nhập khẩu song song, tranh chấp hợp đồng hoặc phạm vi bảo hộ của quyền sở hữu công nghiệp lại cần được đánh giá thận trọng hơn. Nếu không phân loại đúng, biện pháp bảo vệ quyền có thể bị hiểu sai thành công cụ gây cản trở thương mại hợp pháp.
Kiểm soát biên giới phải dựa trên quản lý rủi ro, dùng dữ liệu để đánh giá lô hàng nào có nguy cơ vi phạm cao thì tập trung kiểm tra. Để kiểm soát hiệu quả, cơ quan hải quan cần dữ liệu để biết lô hàng nào đáng chú ý, dấu hiệu nào là giả mạo rõ ràng, trường hợp nào cần hỏi ý kiến chủ thể quyền, trường hợp nào cần đánh giá chuyên môn sâu hơn.
Hồ sơ quyền phải là bộ dữ liệu nhận diện hàng hóa
Một nhãn hiệu được đăng ký hoặc một chỉ dẫn địa lý được bảo hộ là căn cứ pháp lý quan trọng. Nhưng trong thực thi tại biên giới, văn bằng bảo hộ chỉ là điểm khởi đầu để chứng minh quyền của chủ sở hữu văn bằng đó. Người kiểm tra hàng hóa cần biết hàng thật trông như thế nào, bao bì hợp pháp có đặc điểm gì, tem nhãn nào được sử dụng, ai được phép nhập khẩu hoặc phân phối... Nói cách khác, hồ sơ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại hải quan không nên chỉ là bộ giấy tờ chứng minh quyền mà phải là bộ dữ liệu nhận diện hàng hóa.
Thí dụ, với hàng tiêu dùng, dữ liệu có thể gồm ảnh chụp sản phẩm thật, bao bì thật, nhãn phụ hợp pháp... Với hàng kỹ thuật, có thể cần thêm thông tin về cấu tạo, ký hiệu, linh kiện, bao gói... Với chỉ dẫn địa lý, cần có thông tin về chủ thể quản lý, chủ thể được quyền sử dụng, vùng sản xuất và điều kiện sử dụng chỉ dẫn địa lý.
Thông tư 06/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Để cơ chế này phát huy hiệu quả thì chủ thể quyền cần chuẩn bị dữ liệu đủ rõ để hỗ trợ cơ quan hải quan thực thi nhanh và đúng. Nếu dữ liệu quá chung chung, cán bộ cửa khẩu khó nhận diện. Nếu chủ thể quyền phản hồi chậm, cơ hội xử lý có thể qua mất. Nếu hồ sơ không phân biệt hàng giả mạo nhãn hiệu với hàng hóa nghi xâm phạm quyền thông thường, việc áp dụng biện pháp biên giới dễ bị tranh luận.
Do đó, chủ thể quyền cần chủ động hơn trong việc cung cấp dữ liệu nhận diện, cập nhật thông tin về kênh phân phối hợp pháp, cảnh báo tuyến hàng rủi ro và phản hồi kịp thời khi có lô hàng nghi vấn. Cơ quan thực thi cũng cần cơ chế tiếp nhận, sử dụng và kiểm chứng dữ liệu một cách nhanh, thống nhất và thận trọng.
Tránh gây nghẽn thương mại hợp pháp
Thực thi quyền sở hữu trí tuệ mạnh tại biên giới là cần thiết, nhưng cần phải chính xác để tránh cản trở thương mại hợp pháp. Với hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý, nhất là hàng ảnh hưởng đến sức khỏe, an toàn, uy tín thương hiệu hoặc sản phẩm địa phương, yêu cầu đặt ra là xử lý nhanh và đủ sức răn đe. Nhưng với các vụ phức tạp về dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn, phạm vi quyền, quan hệ đại lý, gia công hoặc nhập khẩu song song, cơ quan thực thi cần thêm dữ liệu và đánh giá chuyên môn trước khi áp dụng biện pháp mạnh.
Nếu xử lý quá chậm, hàng giả đi sâu vào thị trường, phân tán qua kho, cửa hàng, sàn thương mại điện tử và mạng xã hội. Khi đó, chi phí xử lý tăng lên rất nhiều. Nhưng nếu quá rộng, hàng hóa hợp pháp có thể bị giữ lại, doanh nghiệp chân chính bị ảnh hưởng, và biện pháp bảo vệ quyền có thể bị lạm dụng trong cạnh tranh thương mại.
Muốn tránh cả hai cực đoan nêu trên, cần ba việc.
Thứ nhất, chuẩn hóa hồ sơ giám sát hải quan về sở hữu trí tuệ theo hướng dễ sử dụng. Hồ sơ phải trả lời được câu hỏi thực tế của người kiểm tra như: nhìn vào đâu để nghi ngờ, đối chiếu với cái gì, liên hệ ai, xử lý trong thời gian nào.
Thứ hai, tăng khả năng kết nối, chia sẻ và đối chiếu dữ liệu của cơ quan hải quan với dữ liệu thị trường. Một lô hàng nghi vấn tại cửa khẩu có thể liên quan đến gian hàng trên sàn thương mại điện tử, kho trong nội địa, tài khoản bán hàng, vận đơn hoặc mạng lưới phân phối đã xuất hiện trước đó. Nếu mỗi nơi có một dữ liệu riêng, không được kết nối, chia sẻ kịp thời thì cơ quan chức năng xử lý từng vụ riêng lẻ mà không thấy được cả chuỗi vi phạm đằng sau.
Thứ ba, cần đầu mối phản ứng nhanh giữa hải quan, chủ thể quyền, cơ quan chuyên môn và lực lượng xử lý trong nội địa. Hàng ở cửa khẩu không thể chờ một quy trình trao đổi kéo dài. Dữ liệu càng rõ, đầu mối càng nhanh, khả năng chặn đúng vi phạm càng cao.
Chống hàng giả từ biên giới vì vậy không chỉ là tăng cường kiểm tra, mà gắn liền với nâng chất lượng dữ liệu, năng lực phối hợp và chặn đúng hàng, đúng căn cứ, đúng thời điểm.