Dòng tiền âm thầm "chảy" ở Trường Sơn

Cùng với vũ khí, đạn dược và nhu yếu phẩm, con đường Trường Sơn còn nhận lãnh một vai trò quan trọng: cung ứng tiền cho mặt trận phía nam trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, kéo dài từ năm 1965 đến 1975. Cũng trên cung đường huyền thoại đó đã từng có những loại "tiền" rất đặc biệt được lưu hành.
Phiếu bách hóa-tờ tiền độc đáo. Ảnh: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
Phiếu bách hóa-tờ tiền độc đáo. Ảnh: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

B29 và N2683

Theo cuốn "Huyền thoại con đường tiền tệ trong kháng chiến chống Mỹ", giai đoạn từ năm 1965 đến 1975 đã có hơn 477 triệu USD được tiếp tế vào nam, cả tiền mặt (AM) và chuyển khoản (FM). Trên đường vận chuyển, địch thả bom đánh phá, xe và tiền bị cháy, mất gần 3,8 triệu USD.

Năm 1965, để công tác hậu cần phục vụ kịp thời cho chiến trường, Bộ Chính trị quyết định thành lập Quỹ Ngoại tệ đặc biệt với phiên hiệu B29, đóng vai trò như một "ngân hàng ngoại hối đặc biệt", cung ứng cho chiến trường miền nam các loại tiền USD, tiền Sài Gòn, riel Campuchia, kip Lào và baht Thái Lan.

Tại miền bắc, B29 đặt tại trụ sở Ngân hàng Nhà nước, tại miền nam, Ban Tài chính đặc biệt trực thuộc Trung ương Cục miền Nam với bí số N2683 là đầu mối tiếp nhận; sau đó tổ chức cất giữ và vận chuyển cho các khu và các tỉnh toàn miền nam để phục vụ kháng chiến.

Con đường đưa ngoại tệ vào chiến trường chia làm hai giai đoạn. Từ năm 1965-1973 vận chuyển bằng tiền mặt, mật danh là AM; ban đầu, chỉ thực hiện vài chuyến qua đường hàng không Paris - Hà Nội - Phnom Penh bằng cách cho tiền vào vali ngoại. Sau do nhu cầu lớn, cần nhiều loại tiền, ngoài USD còn cần cả tiền Sài Gòn, riel Campuchia, baht Thái Lan, kip Lào, nên phải dùng vali lớn đóng gói, ngụy trang thành nhiều kiện (có lúc hàng trăm kg) chở bằng máy bay, tàu hỏa… Ngoại tệ từ nước ngoài về Hà Nội được giao cho C100, Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng) cho vào hòm đạn và thùng sắt vận chuyển vào chiến trường bằng ô-tô, tàu thủy.

Ông Lê Minh Châu, nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kể, nhiều cán bộ của B29 áp tải tiền theo xe vào miền nam qua bao nhiêu bom đạn vất vả, trong khi mọi người đi cùng xe không ai được biết đó là hàng gì. Có những chuyến bị trúng bom từ máy bay địch, USD không bị cháy hẳn nhưng bị nung rục trong hòm kẽm. Hàng chục chiến sĩ hy sinh.

Cuối năm 1972, ta đã móc nối được đường dây, có thể chuyển đổi từ USD sang các loại tiền khác, từ đó việc vận chuyển tiền mặt vào nam đỡ cồng kềnh hơn.

Giai đoạn thứ hai là cuối năm 1973 đến ngày 30/4/1975, giao dịch theo quy ước tay ba giữa B29 với N2683 và thương gia Sài Gòn (nhận hàng trước, thanh toán sau). Khi B29 nhận được điện mật từ N2683 gửi ra đã nhận đủ số tiền Sài Gòn từ thương gia, B29 điện cho ngân hàng ngoại thương có tài khoản tại nước ngoài, yêu cầu họ trích tài khoản có ghi tài khoản của thương gia với số USD tương đương số tiền mặt (theo tỷ giá N2683 đã thỏa thuận) C100 đã nhận tại Sài Gòn.

Tiền mặt được lấy từ các tài khoản của thương gia tại ngân hàng ở Sài Gòn, mật danh là FM, do tổ chức C100 và N2683 bảo quản, vận chuyển tới vùng căn cứ địa cách mạng bằng nhiều phương thức ngụy trang đặc biệt. Nhờ có tiền, hậu quả của những chiến dịch càn quét ác liệt, những trận dội bom B52 rải thảm khủng khiếp được hạn chế. Hàng vạn thương binh được cứu sống bởi có nguồn thuốc tốt.

Vậy mà phải 34 năm sau ngày giải phóng, chiến công của đội ngũ cán bộ ngân hàng làm nhiệm vụ đặc biệt này mới được cả nước biết đến, khi N2683 và B29 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nhận định: "Những đóng góp của cán bộ, chiến sĩ ngành ngân hàng rất âm thầm, lặng lẽ, bởi mọi thứ luôn nằm trong tình trạng tuyệt đối bí mật, thế nhưng đã góp phần rất quan trọng làm nên thành công của sự nghiệp giải phóng miền nam lịch sử năm 1975".

Ðồng tiền Trường Sơn

Trong lúc dòng tiền âm thầm chảy vào nam nhờ những con người mưu trí, quả cảm, thì điều rất thú vị khác là chiến trường Trường Sơn lúc đó lại sử dụng những loại "tiền" rất đặc biệt.

Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa hiện nay vẫn đang lưu giữ ba hiện vật là ba tấm "Phiếu bách hóa", thực chất là ba đồng tiền Trường Sơn, phát hành từ cuối năm 1965, sử dụng trong nội bộ Đoàn 559 (từ năm 1970 đổi là Binh đoàn Trường Sơn). Ngoài đơn vị này, Bảo tàng đường Hồ Chí Minh, Bảo tàng TP Hồ Chí Minh, Phòng truyền thống Hội Cựu thanh niên xung phong tỉnh Thanh Hóa cũng lưu giữ một số phiếu bách hóa.

Đoàn 559 được thành lập ngày 19/5/1959, với nhiệm vụ khai mở đường Trường Sơn nhằm kịp thời chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền nam. Con đường bắt đầu từ Khe Hó (Quảng Bình) băng qua những cánh rừng trên dải Trường Sơn, vươn tới nhiều chiến trường ở phía nam.

Trong suốt những năm kháng chiến, hàng trăm triệu USD chi viện miền nam đã được vận chuyển qua đường Trường Sơn. Nguồn: tư liệu của Đoàn 559-Bộ Tư lệnh Trường Sơn
Trong suốt những năm kháng chiến, hàng trăm triệu USD chi viện miền nam đã được vận chuyển qua đường Trường Sơn. Nguồn: tư liệu của Đoàn 559-Bộ Tư lệnh Trường Sơn

Trong suốt gần 6.000 ngày, đêm không ngơi nghỉ, các lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến… hoạt động trên một địa bàn rộng với gần 40 đầu mối tài chính. Do không được đưa tiền Ngân hàng Nhà nước vào từ vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) nên việc bảo đảm chế độ, quyền lợi cho bộ đội, thanh niên xung phong rất khó khăn. Việc thanh toán đôi khi trùng lĩnh, trùng phát. Thanh toán tài chính nội bộ các đơn vị của đoàn phức tạp, nhiều khi không kịp thời…

Cái khó ló cái khôn, Cục Tài vụ, Bộ Quốc phòng đã làm việc với Ngân hàng Nhà nước, đề xuất được dùng tiền nội bộ. Nhà in ngân hàng đã thiết kế mẫu, in "tiền" và sau đó được phát hành cuối năm 1965, với tên gọi là phiếu bách hóa.

Phiếu bách hóa được in hoa văn một mặt, trên cùng là chữ TRƯỜNG SƠN, phía dưới là PHIẾU BÁCH HÓA, dưới cùng là số mệnh giá. Có bốn loại số mệnh giá là số 1, số 2, số 5 và số 10. Số mệnh giá trên tương ứng với đồng tiền Ngân hàng Nhà nước lúc đó là 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng và 10 đồng. Phiếu bách hóa chỉ lưu hành nội bộ Đoàn 559, từ nam sông Bến Hải trở vào. Với phiếu bách hóa, chiến sĩ ta có thể mua các mặt hàng nhu yếu phẩm như thuốc lào, kẹo bánh… ở các cửa hàng bách hóa tại các binh trạm dọc đường.

Khi bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến thuộc Đoàn 559 ra bắc, tiền Trường Sơn (phiếu bách hóa) được đổi sang tiền Ngân hàng Nhà nước tại hai điểm thu đổi ở Cự Nẫm (Bố Trạch, Quảng Bình) và số 3 Lý Nam Đế, Hà Nội. Các phiếu bách hóa này được chuyển ngược vào Trường Sơn để tiếp tục sử dụng, tiết kiệm được giấy và chi phí in tiền.

Thế nhưng, qua năm tháng, quân số của Đoàn 559 ngày càng tăng, có lúc lên tới 12 vạn người, lượng phiếu bách hóa không đủ để chi trả. Tài vụ quân đội tiếp tục nghiên cứu và xin ý kiến cấp trên để phát hành thêm một loại phiếu thanh toán mới gọi là giấy nhận nợ. Giấy nhận nợ có ý nghĩa như tờ séc hoặc ủy nhiệm chi ở miền bắc lúc bấy giờ.

Khác phiếu bách hóa, giấy nhận nợ không xác định mệnh giá. Khi sử dụng giấy nhận nợ phải ghi đầy đủ họ, tên, đơn vị, quê quán, nhận dạng, số tiền và phải đóng hai con dấu. Một con dấu của Đoàn 559 và một con dấu của đơn vị hưởng séc. Sở dĩ phải ghi chi tiết thế là vì khi vào nam chiến đấu, công tác, bộ đội, cán bộ miền bắc không được phép đem theo chứng minh thư. Việc ghi vào sổ lưu để đối chiếu trong khi thanh quyết toán còn để đề phòng trường hợp có cháy hoặc người sử dụng giấy hy sinh thì dựa trên địa chỉ đã đăng ký để sau này chuyển tiền trả về gia đình liệt sĩ. Một chi tiết thú vị là để phân biệt giấy thật, giấy giả mạo, ở phần ghi chú nhỏ ở phía dưới cùng của giấy có ghi dòng chữ "giữ gìn cẩn thận" trong đó có một chữ "n" được in ngược thành chữ "u".

Tương tự như phiếu bách hóa, cán bộ, chiến sĩ thanh niên xung phong khi trở về hậu phương, mang giấy nhận nợ đến các điểm đã chỉ định để đổi tiền ngân hàng. Song khác với phiếu bách hóa, giấy nhận nợ sau khi thu về được kiểm kê và tiêu hủy ngay. Chính vì đặc điểm này mà hiện nay không còn "giấy nhận nợ" nào được lưu giữ để gợi nhắc một giai đoạn không thể nào quên, một phần đáng tự hào trong lịch sử ngành tài chính - ngân hàng Việt Nam nói chung và tài chính quân đội nói riêng.

Không chỉ rất thuận lợi trong chi tiêu, việc sử dụng các loại tiền Trường Sơn còn giảm được đáng kể việc phải gùi thồ, mang vác hàng hóa, vật dụng cá nhân cồng kềnh.

Nhưng đáng nói nhất là trong suốt quãng thời gian sử dụng phiếu bách hóa, giấy nhận nợ, không có bất kỳ sự giả mạo nào được phát hiện, cũng không hề có chuyện trùng phát hay trùng lĩnh, vừa cho thấy sự trong sáng của cán bộ, chiến sĩ ta, vừa cho thấy công tác tiền tệ - tài chính đã được vận hành khoa học, thông suốt và rành mạch.