Đỗ Quảng: Sự chân thật của một đời cầm bút

Đỗ Quảng vốn là cây bút phóng sự, phóng viên đặc biệt của Báo Nhân Dân. Ở tuổi U90, ông già chuyên gia viết phóng sự bỗng… làm thơ. “Thương lắm Sài Gòn ơi”, tập thơ đầu tay chào đời năm 2021; “Vui buồn tháng Tư” - năm 2024; “Những lời nói thật”, NXB Hội Nhà văn, ấn hành tháng 11/2025.

Nhà báo Đỗ Quảng (bên phải) tặng thơ tác giả bài viết - Nghệ sĩ nhiếp ảnh Ngọc Phan.
Nhà báo Đỗ Quảng (bên phải) tặng thơ tác giả bài viết - Nghệ sĩ nhiếp ảnh Ngọc Phan.

1. Lâu nay, trong dân gian có câu truyền miệng “Gặp nhau tay bắt mặt mừng, Tặng gì thì tặng xin đừng… tặng thơ”. Vậy mà “Những lời nói thật” in 1.000 cuốn vừa phát hành đã bán hết veo. Tháng 12/2025 tái bản lần thứ nhất. Và rồi, tháng 2/2026 tiếp tục tái bản lần thứ hai. Điều kỳ diệu nào làm nên sự kiện này? Đó là tính mộc mạc, là những lời nói thật xuất phát từ gan ruột. Lời thơ giản dị, như hạt thóc củ khoai. Có một nét gì đó trần trụi. Phải chăng đó là phẩm chất chân thực, là đặc trưng của thể loại phóng sự mà Đỗ Quảng đã rất thành công vẫn thấp thoáng đâu đây trong những bài thơ của ông.

Đọc “Những lời nói thật” thấy tác giả viết những điều mà chúng ta từng nghĩ đến, những chuyện từng nghe, từng thấy. Tâm trạng của ông, mong ước của ông cũng là của đa số người dân cho nên thơ ông có sự đồng cảm của người đọc.

Đỗ Quảng là người không câu nệ vào một thể thức thơ nào. Ông làm thơ theo cách của riêng mình miễn là câu thơ đó truyền tải được ý nghĩa của điều muốn nói, mang được nỗi niềm của ông. Một tiếng thơ riêng. Chân thành. Đầy trách nhiệm của một công dân. Một người cầm bút dũng cảm. Ông không chỉ “nói thật” về sự đời, về góc khuất, về mặt trái của xã hội qua những vụ tham ô, tham nhũng, lừa đảo của một số người trong đó không ít là những kẻ có chức, có quyền nhưng tha hóa biến chất. Bài “Những lời nói thật”: “Bệnh trầm kha níu kéo vòng quay lịch sử/tham ô, tham nhũng, lãng phí, hà lạm/Giặc nội xâm, những quan gian giấu mặt”. Còn “Bài thơ viết lại”: “Chớ trông gà hóa cuốc/Đừng nghĩ đỏ là chín/Nhưng/Gà thật sao thành cuốc/Đỏ thật sao vẫn xanh/Hỏi/Tội này là của ai/…”.

Toàn bài có 12 câu. 12 lần xuống dòng trống không. Tận câu cuối cùng mới có dấu chấm. Và hai câu chỉ có một âm tiết. Chỉ một âm tiết thôi. Nhưng lại có một sức nặng. Như đặt ra một câu hỏi với người đọc, với xã hội.

“Những lời nói thật”, thấy lạ ngay từ cái tên và nghe chẳng thơ chút nào, nhưng lại hiệu quả. Đó là những điều nói thật với nhau. Giãi bày tâm sự với nhau. Không màu mè. Không vòng vo, dài dòng văn tự. Nói những điều có thật. Chuyện có thật mà tác giả đã cảm, đã thấy chứ không hư cấu và Đỗ Quảng dám nói thật ý nghĩ của mình mà không phải ai cũng dám nói những chuyện, những điều mà người đời thường gọi là nhạy cảm. Cũng vẫn ở “Bài thơ viết lại”: “Nhìn nhầm người/Dùng nhầm người/Phá đất nước/Làm khổ dân…”.

Tác giả trăn trở với nhân tình thế thái, những ám ảnh nhân sinh. Viết từ sự bức xúc, từ ý nghĩ bất chợt, từ đêm khuya không ngủ.

Các nhà thơ xưa tức cảnh sinh tình. Nay Đỗ Quảng ngẫm đời cầm bút làm thơ. Nhà thơ lớn Hồ Chí Minh từng viết: “Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp/Mây gió trăng hoa tuyết núi sông/Nay ở trong thơ nên có thép”… Bạn đọc tìm được trong thơ Đỗ Quảng những ý tưởng như thế. Bài “Mặt thật”: “Líu lo như chim hót/Rặt lời vàng ngọc/Cán bộ phải vì dân/Có lợi cho dân thì làm/Nước trôi đổ đầu vịt/ Sống như cha thiên hạ/Ăn được gì cứ ăn/...”.

Rồi tác giả lên án: “Mấy con sâu độc thân/Nhận rõ bộ mặt thật/Tấn trò đời xấu hổ!”. Lời thơ đanh thép, như một đòn đau đánh vào những kẻ lý thuyết suông, lời nói không đi đôi với việc làm.

2. Tuy xã hội còn nhiều bất cập, ở góc độ người làm thơ, Đỗ Quảng thể hiện tính nhân văn, hiển lộ một nỗi niềm trắc ẩn. Ông độc thoại với chính mình. Bài “Qua đêm”: “Tám chục rồi/Mai kia về trời/Cái tốt cái đẹp cái yêu mang theo/Cái xấu cái bẩn cái buồn bỏ lại”.

Hơn trăm trang. 66 bài thơ. Đỗ Quảng nhắc đến bà bán xôi, cô gái bán hoa đào ngày Tết, những anh thương binh, tiếng đàn đại tướng… Hình ảnh của mỗi người, mỗi nhân vật trong thơ ông chỉ là mấy nét phác thảo chân dung, việc làm của họ nhưng lại nêu lên được một câu chuyện về cuộc đời, một lát cắt của cuộc sống nhưng là một bài học, một chân lý.

Tác giả ngợi ca những người bạn học cùng lớp ngày xưa, bài “Qua đêm”: “Thuở hàn vi mấy bạn kiếm cơm từng bữa tới trường/Hôm nay giáo sư, chuyên gia, nhà văn, nhà báo/Sứ giả ngoại giao, hàm tướng một, hai sao/Gia sản chẳng có gì, một tấm gương để lại”.

Đúng là tấm gương. Những tấm gương lớn để đời.

Người làm báo, hẳn ai cũng nếm trải cái gian truân nhưng vinh quang của nghề nghiệp. Càng tâm đắc với tác giả ở bài “Nghề báo”. Và cái triết lý sống của Đỗ Quảng: “Cứ thế làm nghề/Vượt qua chính mình/Nhà báo/Mai kia tái sinh ta lại chọn nghề này”. Lời khẳng định thật là chí tình.

Tác giả có một cách ví von rất lý thú. Thời gian được ví như cái sàng gạo - (nguyên văn câu thơ: “Thời gian như cái sàng gạo”). Những ai sinh ra hoặc từng gắn bó với nông thôn, hẳn biết tác dụng của cái sàng lúc sàng gạo: “Hạt lép, hạt mẩy/Cám trấu sạn sỏi/Đá đất rác bẩn/Nhìn thấy hết…”.

Tác giả lấy chuyện sàng gạo để nói vấn đề lớn. Chuyện xã hội. Chuyện quốc gia đại sự. Ở đây là chuyện chống tham ô tham nhũng. Mà “Khủng khiếp nhất là tham ô quyền lực” - Bài “Con tim đã vui trở lại”. Nhưng tác giả gửi trọn niềm tin (vào Đảng và người đứng đầu - cố nhiên). Bài “Gửi người ở lại”: “…Lò nóng lên rồi, giữ lửa đỏ, đỏ thêm nữa/Củi tươi, củi ướt cho vào lò cháy hết/Chống tham nhũng/Không ngừng nghỉ/Không vùng cấm/Không có ngoại lệ dù đó là ai…”.

3. Đỗ Quảng, con người thủy chung, tình cảm. Ông trân trọng những nhà báo đàn anh, những bậc tài danh đức độ. Ấy là khi ông được nhìn thấy trên màn hình vô tuyến buổi lễ trao huy hiệu 50 năm tuổi Đảng cho nhà báo Đinh Thế Huynh, nguyên Tổng Biên tập Báo Nhân Dân. Bài “Thực hay mơ”: “Hạnh phúc vỡ òa/Rưng rưng chớp mắt/Con tim loạn nhịp”.

Chỗ khác, trong bài “Nhớ anh Hoàng Tùng”, nhìn cây đa ở sân tòa báo, bâng khuâng… tác giả nhớ nét giản dị ở tư thế, phong thái của người xưa, thể hiện tình cảm sâu nặng của mình với Hoàng Tùng: “Cây đa còn đây/Mà người không thấy/Mây trắng bay về trời/Để lại dáng đi/Giọng nói”.

Hoặc có khi chỉ là bất chợt gặp ở tấm biển hiệu trên đường phố vẫn khiến Đỗ Quảng rưng rưng khóe mắt. Bài “Tấm biển đường phố” - (Thương nhớ nhà báo, nhiếp ảnh gia Nguyễn Bá Khoản): “Tấm biển đường rạng danh Nguyễn Bá Khoản/mỗi lần rưng rưng đứng ngắm nhìn”.

4. Bạn đọc còn bắt gặp nhiều điều lý thú ở tập thơ “Những lời nói thật”. Đỗ Quảng có cô con gái yêu mà ông đặt biệt danh là “cà rốt”: “Cà rốt” về ngoại/Một đêm thôi, bố một mình vắng con”. Nỗi cô đơn vắng con gái yêu, trong bài “Một mình”, ông than thở: “Con gái ơi/Đêm khuya/Phòng con đèn tắt/Bố ngồi bàn cầm bút/Mấy dòng thơ ứa ra từ nước mắt/Giấu trong tim mọi đắng cay”. Không biết là nỗi buồn nhân thế hay nỗi đau riêng tư, hay là cả hai. Đỗ Quảng động viên mình và cũng là khuyên con gái: “Cứ vậy mà sống/Cứ vậy vui buồn/Con chữ bờ vai ta vịn đứng dậy/Như chiếc gậy thần dìu chân bước”.

Ông già U90 vịn bờ vai con gái và cả vịn vào con chữ. Coi như chiếc gậy thần giúp ông sống những ngày còn lại có ích. Cho hay, câu thơ chạm được vào trái tim người đọc không nhất thiết phải là gắn với những điều lớn lao. Nó nằm ngay trong những điều bình dị quanh ta.

Nhìn toàn tập, thơ Đỗ Quảng thuộc loại thơ thế sự, có bài mang tính độc thoại, lại có bài mang hơi hướng trường ca.

Giọng điệu, vần thơ của Đỗ Quảng sang sảng, có một chút khác biệt, đầy tự tin, có lúc sôi nổi. Trong trời biển mênh mông của những người làm thơ, níu giữ được người đọc thật là khó. Với Đỗ Quảng, qua “Những lời nói thật”, ông đã làm được điều hơn thế.

Có thể bạn quan tâm