Quá trình toàn cầu hóa nhanh chóng nhờ sự phát triển của tự do hóa thương mại và công nghệ thông tin đã thúc đẩy sự thay đổi của nền kinh tế thế giới từ nền kinh tế tiêu thụ nhiều tài nguyên sang nền kinh tế tri thức. Dòng luân chuyển tư bản, lao động, giao lưu văn hóa, khoa học, công nghệ và tri thức đã thúc đẩy nhân loại chung sống trong một “thế giới phẳng”. Lao động sáng tạo là nền tảng của phát triển và vị thế của tri thức đang được đặc biệt đề cao trong nhiều lĩnh vực. Rõ ràng, tiềm năng chất xám là vô hạn trong khi nguồn tài nguyên là hữu hạn.
Nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản là: tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn quý nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu quyết định sự tăng trưởng và phát triển; cơ cấu sản xuất hậu công nghiệp ngày càng dựa nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao; hàm lượng tri thức trong sản phẩm ngày càng cao, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng hơn những yếu tố tài nguyên thiên nhiên; lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao (70-90%); nguồn nhân lực được tri thức hóa; sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường trực của cộng đồng.
Ngân hàng Thế giới đã phát triển một số chỉ số để đo lường mức phát triển của nền kinh tế tri thức. Những chỉ số này bao gồm chỉ số tri thức, chỉ số sáng tạo, chỉ số về giáo dục, công nghệ thông tin. Từ các chỉ số này được tổng hợp thành chỉ số chung gọi là chỉ số kinh tế tri thức (KEI). Các chỉ số này phản ánh phần nào tình trạng kinh tế tri thức của từng nước và cho phép ta so sánh với các nước khác.
Ngày nay chúng ta đang chứng kiến những thành tựu được tạo ra từ làn sóng thứ 3 của nền kinh tế tri thức là kinh tế phần mềm, một đặc điểm của kinh tế hậu công nghiệp. Trong đó: tri thức là yếu tố hàng đầu của nền sản xuất, thông tin là tài nguyên quan trọng nhất và sáng tạo là động lực phát triển.
Dựa vào chỉ số KEI, tháng 5-2011, UNESCO đã xếp hạng Việt Nam đứng thứ 106 trong 145 nước. Bảng xếp hạng cho thấy thang bậc kinh tế tri thức của Việt Nam thấp so với nhiều nước trong khu vực như In-đô-nê-xi-a: 103, Phi-li-pin: 89, Thái-lan: 63, Ma-lai-xi-a: 48 và Xin-ga-po: 19. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới thì chỉ số kinh tế tri thức (KEI) của Mỹ: 9,02; Xin-ga-po: 8,44; Nhật Bản: 8,42; Hồng Công: 8,33; Ma-lai-xi-a: 6,07; Thái-lan: 5,52 và Việt Nam: 3,51.
Trong hệ thống chỉ số kinh tế tri thức có chỉ số sáng tạo. Mới đây, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ toàn cầu đã công bố bảng xếp hạng chỉ số sáng tạo của gần 200 nước và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới; đứng đầu là Mỹ: 9,47 và Việt Nam: 2,72; xếp hạng này cũng cho thấy Việt Nam đang ở nửa dưới bảng xếp hạng chỉ số sáng tạo. Căn cứ vào những đặc trưng của nền kinh tế tri thức thì cơ cấu kinh tế - lao động của Việt Nam là lạc hậu: tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp trong GDP còn hạn chế.
Kinh tế Việt Nam hiện vẫn mang dấu ấn của kinh tế nông nghiệp đang chuyển dần sang kinh tế công nghiệp. Một trong những tiêu chí đang chuyển dần sang kinh tế công nghiệp. Một trong những tiêu chí quan trọng của kinh tế tri thức là sự ứng dụng công nghệ vào sản xuất kinh doanh và quản lý. Thì nay phần lớn doanh nghiệp ở ta đều thiếu thông tin về công nghệ. Việc đầu tư cho khoa học, công nghệ ở Việt Nam nếu so sánh với một số quốc gia trong khu vực là thấp chỉ khoảng 0,3% GDP, trong khi Ma-lai-xi-a là 1% và Xin-ga-po là 3%.
Nguyên nhân của nền kinh tế tri thức ở ta thấp là yếu kém về giáo dục và nghiên cứu khoa học. Trong khi, thực tế, sản phẩm nghiên cứu khoa học ngoài những bài báo công bố trên các tập san quốc tế còn thể hiện bằng sáng chế, một hình thức chuyển giao công nghệ. Chỉ tính từ năm 2000 - 2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng ký được 19 bằng sáng chế, còn riêng năm 2007 chẳng có bằng sáng chế nào. Cũng thời gian này, Thái-lan đăng ký được 310 bằng sáng chế, Xin-ga-po 3.644, In-đô-nê-xi-a có 85, Phi-li-pin 256, còn Ma-lai-xi-a có tới 901 bằng sáng chế...
Ngân sách Nhà nước mỗi năm đầu tư cho nghiên cứu khoa học của các bộ, ngành là hàng nghìn tỷ đồng, nhưng không có mấy công trình nghiên cứu có tầm cỡ thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng. Chưa kể nước ta có đội ngũ trí thức đông vào bậc nhất (tính theo tỷ lệ dân số) so với nhiều nước trong khu vực Đông-Nam Á và châu Á, với gần 9.000 giáo sư, phó giáo sư và hàng chục nghìn tiến sĩ, thạc sĩ. Thế nhưng, mỗi năm chỉ có khoảng 900 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Đó là một năng suất cực kỳ khiêm tốn. Theo chuẩn quốc tế, mỗi giáo sư phải có ít nhất một bài báo khoa học mỗi năm. Rõ ràng, trí thức ở nước ta “đông” mà chưa “mạnh”.
Nhìn tổng thể, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang chủ yếu dựa vào nguồn nhân công rẻ, ít được đào tạo và hiện đang làm ra nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng thấp. Số doanh nghiệp áp dụng và được chứng nhận ISO 9000 còn rất khiêm tốn. Không ít doanh nghiệp của ta “khăn gói” ra nước ngoài đấu thầu nhưng cánh cửa bị khép lại, bởi thiếu tiêu chuẩn đầu tiên là chứng chỉ ISO 9000. Không ít trường hợp hàng hóa Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài bị trả lại do thiếu tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn môi sinh, môi trường...
Cái thời tự tin dựa vào lợi thế “rừng vàng, biển bạc” hay nguồn nhân công rẻ đã qua rồi. Chúng ta đang tụt hậu khá sâu về năng lực cạnh tranh công nghệ. Vậy muốn bứt phá để phát triển nhanh, mạnh và bền vững phải chú trọng thúc đẩy kinh tế tri thức, trong đó các yếu tố công nghệ và tài sản trí tuệ sẽ đóng vai trò quyết định.
Tuy nhiên để phát triển nền kinh tế tri thức cần một đội ngũ trí thức mạnh. Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đã trở thành tư tưởng chiến lược của Đảng. Đây cũng là vấn đề khoa học và nghệ thuật dùng người. Cần trân trọng cống hiến của trí thức, tạo môi trường dân chủ, tự do thật sự, tránh đố kỵ hẹp hòi, để họ sáng tạo chuyên môn, kể cả phản biện những chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
* ...tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn qu. nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu quyết định sự tăng trưởng và phát triển; cơ cấu sản xuất hậu công nghiệp ngày càng dựa nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao; hàm lượng tri thức trong sản phẩm ngày càng cao, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng hơn những yếu tố tài nguyên thiên nhiên; lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao (70-90%)...