Cá nhân, pháp nhân
là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự
Điều chỉnh các mối QHDS trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể; hạn chế tối đa sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước vào các giao dịch dân sự (GDDS), góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, có một bước tiến đổi mới và tiếp cận với thông lệ quốc tế tốt hơn là điểm nổi bật của BLDS (sửa đổi).
Một trong những quan điểm sửa đổi cơ bản của BLDS là quy định cụ thể về địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân; hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, tham gia QHDS thông qua cá nhân là người đại diện hoặc là thành viên của mình theo quy định của Bộ luật này, pháp luật khác có liên quan; các thành viên có thể thỏa thuận cử người đại diện tham gia, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự vì lợi ích chung. Quy định như vậy nhằm minh bạch các chủ thể có đầy đủ quyền, nghĩa vụ và năng lực chủ thể pháp luật dân sự chỉ bao gồm cá nhân, pháp nhân.
Mặc dù vẫn còn một số ý kiến băn khoăn, chưa thật sự đồng tình nhưng đa số ĐBQH tán thành quy định tại dự thảo BLDS (sửa đổi), khắc phục những bất cập về chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, phù hợp thông lệ quốc tế. BLDS hiện hành, ngoài cá nhân, pháp nhân đưa hộ gia đình, tổ hợp tác là chủ thể của QHDS. Tuy nhiên, đã có nhiều cách hiểu khác nhau cũng như khó xác định tư cách thành viên, tư cách đại diện, tài sản chung liên quan đến hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia giao dịch dân sự nên nảy sinh nhiều vướng mắc, áp dụng pháp luật khó khăn, quyền lợi chính đáng của chủ thể trong QHDS khó được bảo đảm. Nhiều ĐBQH chỉ rõ tồn tại, khi xảy ra tranh chấp, Tòa án không thể quy trách nhiệm chung cho hộ gia đình, tổ hợp tác mà đều phải thông qua chủ thể là cá nhân nên giải quyết phức tạp, kéo dài, nhất là trường hợp các thành viên đi làm ăn nhiều nơi, khó xác định hoặc không xác định được tại một thời điểm nhất định tài sản chung của các khoản chung của hộ gia đình gồm tài sản nào, tài sản nào là tài sản riêng...
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong giao dịch dân sự
Nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các chủ thể khi tham gia GDDS nói chung và hợp đồng nói riêng, BLDS (sửa đổi) sửa đổi nhiều điều luật. Về nguyên tắc, hợp đồng là thỏa thuận và việc giao kết, thực hiện phải dựa trên ý chí tự do, tự nguyện của các bên. Tuy nhiên, thực tiễn có nhiều trường hợp vì những lý do khách quan dẫn đến hoàn cảnh thay đổi lớn, bên tham gia GDDS không thể lường trước và biết trước đến mức mà việc tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng nhưng không thể ngăn chặn, giảm thiểu thiệt hại và nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng đó sẽ dẫn tới nguy cơ phá sản. Bổ sung Điều 419 trong BLDS (sửa đổi) về việc Tòa án được quyền điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản được phần lớn ĐBQH đồng tình, bởi phù hợp nguyên tắc thiện chí trong QHDS và hướng tới lợi ích chung.
Làm thế nào hạn chế tối đa việc can thiệp vào hợp đồng, tránh lạm dụng, gây bất ổn trong QHDS là đòi hỏi từ thực tiễn. Dự thảo Bộ luật quy định rõ năm điều kiện xác định hoàn cảnh được coi là thay đổi cơ bản, trong đó có điều kiện: sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng. Cần quy định rõ nguyên nhân khách quan là gì, chẳng hạn như các trường hợp bất khả kháng như thiên tai, địch họa, hỏa hoạn, động đất, đình công, cấm vận, thay đổi tỷ giá... tránh các chủ thể nhận thức khác nhau và sẽ làm phức tạp thêm vấn đề.
Việc cho phép Tòa án sửa đổi hợp đồng cũng cần xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng. Theo ĐBQH Nguyễn Mạnh Cường (Quảng Bình), thẩm phán có thể rất am hiểu về pháp luật, biết việc áp dụng pháp luật đúng hay sai nhưng lại không có chuyên môn về kinh tế, thương mại, xây dựng, về lĩnh vực cụ thể...; với quy định sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi cần làm rõ gây thiệt hại cho bên nào và so với chi phí để thực hiện hợp đồng của bên nào, tránh tùy tiện thực hiện. Thận trọng hơn, ĐBQH Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) kiến nghị Tòa án chỉ sửa đổi hợp đồng nếu có yêu cầu của các bên, trên cơ sở cân bằng lợi ích của hai bên và vẫn còn một số ý kiến trái chiều đề nghị không đưa Điều 419 vào luật khi quy định nội dung này chưa khả thi.
Một tồn tại phổ biến trong thực tiễn là GDDS không tuân thủ về hình thức còn diễn ra rất nhiều, thí dụ như việc chuyển nhượng xe máy, nhà cửa ở khu vực nông thôn và giữa những người thân, một phần do nhận thức của người dân còn hạn chế, chưa quen giao dịch hợp đồng dân sự bằng văn bản... Quy định như BLDS hiện hành còn nhiều bất cập mà ĐBQH Đặng Công Lý (Bình Định) chỉ rõ, khi xảy ra tranh chấp thì Tòa án quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong thời hạn một tháng, lúc này chắc chắn các bên sẽ không thực hiện được vì đã xảy ra mâu thuẫn tranh chấp và Tòa án phải tuyên GDDS này là vô hiệu, mặc dù thực tế một hoặc hai bên đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trong giao dịch. Điều 129 dự thảo BLDS quy định Giao dịch đã được xác lập mà vi phạm quy định bắt buộc bằng văn bản nhưng một bên hoặc các bên đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó khắc phục được hạn chế nói trên, tránh bên không thiện chí lạm dụng quy định hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức để bội ước, gây thiệt hại cho bên đối tác, gây mất ổn định trong QHDS nói chung và hoạt động sản xuất, kinh doanh nói riêng.
Quy định chuyển đổi giới tính: Cần thấu tình, đạt lý
Thực tế pháp luật hiện hành chưa công nhận chuyển đổi giới tính (CĐGT), nhưng nhiều người vẫn tự đi ra nước ngoài CĐGT hay những cuộc hôn nhân của những người đồng tính vẫn diễn ra. Trong khi các cơ chế hỗ trợ chưa thật sự hoàn thiện, họ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Nên xem xét vấn đề CĐGT ở góc độ vừa là quyền con người theo Hiến pháp quy định, vừa là thực tiễn xã hội đang xảy ra và Quốc hội nghiên cứu cho công nhận là kiến nghị của nhiều ĐBQH. Quy định như Điều 37, dự thảo Bộ luật “Việc CĐGT được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã CĐGT có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan” bảo đảm tính nhân văn và phù hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Tuy nhiên, CĐGT kèm theo nhiều vấn đề xã hội phát sinh liên quan đến y tế, bảo hiểm, hôn nhân gia đình, chính sách an sinh xã hội, thực thi pháp luật... Hiện nay, trên thế giới mới chỉ có hơn 20 nước quy định CĐGT trong luật, trong khi đó nhiều nước vẫn không công nhận và không quy định trong luật bởi lo ngại các hệ lụy phát sinh. Yêu cầu quy định cụ thể, chặt chẽ, “thấu tình đạt lý” được các ĐBQH đề cập nhằm tránh tùy tiện CĐGT, gây phức tạp cho xã hội. ĐBQH Nguyễn Thị Ngọc Thanh (Hà Nội) và Nguyễn Thúy Anh (Phú Thọ) gợi mở một số quy định cụ thể như điều kiện phải được cơ quan y tế có thẩm quyền xác định cá nhân từ 18 tuổi trở lên, chưa kết hôn, có sự mâu thuẫn về giới tính cần y học can thiệp để chuyển đổi, đã được tư vấn về tâm lý và y tế, quy định về các trường hợp cấm CĐGT để người dự định chuyển giới cân nhắc kỹ lưỡng, tránh lạm dụng. Phương án khả thi mà một số ĐBQH đề xuất là không đưa Điều 37 vào BLDS (sửa đổi) mà xem xét, quyết định vấn đề này bằng một văn bản pháp luật khác.
| Nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng nói riêng, BLDS (sửa đổi) sửa đổi nhiều điều luật. |